08:03 ICT Thứ bảy, 21/10/2017
Rss Feed

Đặc điểm lâm sàng – Giải phẫu bệnh của Carcinôm tuyến đại trực tràng

Đăng lúc: Thứ tư - 14/12/2016 09:37 - Người đăng bài viết: Cộng tác viên

 

Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là một trong những ung thư thường gặp trên thế giới. Trong năm 2012, theo ước tính của Tổ chức nghiên cứu ung thư quốc tế có 1.360.602 trường hợp được chẩn đoán UTĐTT trên toàn thế giới (ung thư phổ biến thứ 3 trên thế giới, chiếm 9,7% của tất cả các loại ung thư trừ ung thư da không hắc tố), và 447.136 trường hợp được chẩn đoán UTĐTT tại Châu Âu (ung thư phổ biến thứ 2 ở châu Âu, chiếm 13,0% của tất cả các loại ung thư trừ ung thư da không hắc tố). Trong năm 2012, ước tính có khoảng 693.933 người tử vong do UTĐTT trên toàn thế giới (chiếm 8,5% tổng số trường hợp tử vong do ung thư, 4 nguyên nhân phổ biến nhất tử vong liên quan ung thư), và 214.866 người tử vong do UTĐTT ở châu Âu (chiếm 12,2% tổng số trường hợp tử vong ung thư , 2 nguyên nhân phổ biến nhất tử vong liên quan đến ung thư).

Giai đoạn ung thư đại trực tràng

Giai đoạn ung thư đại trực tràng

Tỉ lệ sống 5 năm của UTĐTT (tức là, số lượng bệnh nhân UTĐTT còn sống năm năm sau khi chẩn đoán) trong năm 2012 ước đạt 3.543.582 trên toàn thế giới (68,2 người UTĐTT còn sống trên 100.000 dân) và 1.203.943 ở châu Âu (192,3 người UTĐTT còn sống trên 100.000 dân ). Trong năm 2012, nguy cơ tích lũy của CRC ở những người ở độ tuổi dưới 75 là 1,95% trên toàn thế giới (2,36% ở nam giới, 1,57% ở phụ nữ) và 3,51% ở châu Âu (4,48% ở nam giới, 2,73% ở phụ nữ).

Tại Việt Nam năm 2008, Ung thư đại trực tràng ở 2 giới đứng hàng thứ 4 sau ung thư Gan, Phổi, Dạ dày.

Tại Tp. Hồ Chí Minh ghi nhận từ năm 2007 đến 2011 có 33.126 trường hợp ung thư.. Ở nam giới, ung thư đại trực tràng đứng hàng thứ 3 sau ung thư phổi và gan với xuất độ thô là 11,1, xuất độ chuẩn tính theo tuổi là 16,2. Ở giới nữ ung thư đại trực tràng đứng hàng thứ 3 sau ung thư vú và cổ tử cung với xuất độ thô là 8,8, xuất độ chuẩn tính theo tuổi là 8,8.

Nguyên nhân do chế độ ăn uống thì tỉ lệ ung thư đại trực tràng gặp nhiều ở những người có chế độ ăn theo Phương Tây như ăn nhiều năng lượng giàu mỡ động vật kèm theo ít vận động. Mặt khác, nghiên cứu về dịch tễ học cho thấy uống rượu, hút thuốc lá, ăn thịt là yếu tố nguy cơ cao gây ung thư. Ngược lại, bữa ăn có nhiều nguồn gốc từ thực vật và tập thể dục thì có lợi, chất xơ có vai trò bảo vệ . Theo tác giả Hjartaker, A., Aagnes, B., Robsahm, T. E., Langseth, H., Bray, F. & Larsen, I. K. (2013) thì cho rằng rượu liên quan nhiều với ung thư trực tràng hơn đại tràng, còn ăn thịt liên quan đến ung thư đại tràng phải, đại tràng trái và trực tràng. Theo ghi nhận của tác giả Nguyễn Sào Trung. (2005)  thì Vai trò của thực phẩm, vẫn còn đang được khảo sát vì còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng. Có hai vấn đề đã được xác nhận. Đó là vai trò của thức ăn có thịt và mỡ động vật, vai trò của thực phẩm ít chất xơ.

Ăn nhiều thịt nhất là thịt bò, trong đó có nhiều mỡ có thể dễ bị ung thư đại tràng. Theo giả thuyết này, thực phẩm có nhiều mỡ động vật có 2 tác dụng: làm tăng lượng acid mật và các sterols trung tính, làm thay đổi các vi khuẩn có sẵn trong ruột. Sự thay đổi này thúc đẩy sự phát triển của các bacteroides, ức chế và làm tăng tương đối số vi khuẩn yếm khí đặc biệt là các Clostridium. Các vi khuẩn này có thể biến đổi các acid mật và sterols trung tính thành các chất chuyển hóa có khả năng thúc đẩy hoặc mở đầu cho sự hình thành các u.

Bữa ăn với thực phẩm ít chất xơ có thể làm giảm độ lớn của phân, làm kéo dài thời gian phân ở lại trong trực tràng, do đó, tạo cơ hội cho sự sản xuất các chất sinh ung nội sinh và làm cho niêm mạc ruột phải tiếp xúc lâu hơn với các chất sinh ung. Sự giảm độ lớn của phân còn làm giảm sự hòa tan và mức bám của các chất sinh ung trong phân. Các bằng chứng này được ghi nhận từ các khảo sát dịch tễ học ở Phi Châu. Người ta thấy rằng người Bantus, có thói quen ăn thực phẩm nhiều chất xơ thì có tần suất ung thư đại tràng thấp hơn các người Phi Châu ở thành thị (ăn ít chất xơ).

Tuy nhiên, có những lập luận khác về vai trò của thực phẩm ít chất xơ trong vấn đề sinh ung:

(1): thời gian phân đi qua đại tràng không chỉ tùy thuộc vào thực phẩm mà còn do yếu tố di truyền.

(2): các thực phẩm ít chất xơ cũng là những thực phẩm có ít các sinh tố A,B,E (có trong rau, quả) là những sinh tố được coi như làm giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư.

(3): một số loại rau cải họ thập tự như: cải bông, bông cải, cải bắp... có khả năng ức chế sự hình thành ung thư nhờ vào tác dụng làm giảm hoạt động của enzyme hydro carbon hydroxylase trong ruột (chứ không phải nhờ vào các chất xơ). Loại enzyme này làm cho các chất hydrocarbon sinh ung dễ bị hư và vì vậy có tác dụng bảo vệ niêm mạc ruột.

Như vậy chế độ ăn uống với thực phẩm ít chất xơ làm tăng nguy cơ bị ung thư đại tràng, không phải chỉ vì nó làm giảm độ lớn của phân và làm kéo dài thời gian phân đi qua ruột mà còn có thể vì các ảnh hưởng khác.

Ngoài ra còn nhiều yếu tố nguy cơ liên quan tới UTĐTT như: Viêm ruột mạn tính, Viêm loét mạn đại tràng, Bệnh Crohn, liên quan giữa bướu tuyến với carcinôm. Bên cạnh đó còn do yếu tố địa lý, yếu tố di truyền, tiền sử gia đình, tiền sử bản thân, hoạt động thể chất, béo phì, ,... Đặc biệt các yếu tố khác như kích thước u, loại mô học, độ mô học, tình trạng hạch, di căn, giai đoạn bệnh lại liên quan đến tiên lượng bệnh. Tại Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập về dịch tễ học, lâm sàng và giải phẫu bệnh của UTĐTT. Tuy nhiên, tại tỉnh Đồng Nai chưa ghi nhận, xuất phát từ thực tế trên, nhóm tác giả ThS.BS Nguyễn Thanh Hải và BS. Cao Hải Nam thực hiện nghiên cứu đề tài “Đặc điểm lâm sàng - Giải phẫu bệnh của carcinôm tuyến đại trực tràng tại Bệnh viện Đa Khoa Thống Nhất Đồng Nai” theo cơ chế 50/50 của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Đồng Nai với 03 mục tiêu:

-Xác định tỉ lệ một số đặc điểm lâm sàng (tuổi, giới tính, tiêu phân có máu, tiền sử bản thân bệnh viêm đại trực tràng mạn tính, tiền sử bản thân bị polyp đại trực tràng, tiền sử gia đình bị ung thư đại trực tràng, đái tháo đường type 2, tập thể dục, hút thuốc lá, chỉ số khối cơ thể, di căn hạch, di căn xa).

-Xác định tỉ lệ đặc điểm giải phẫu bệnh của carcinôm tuyến đại trực tràng (đại thể tổn thương, vị trí tổn thương, loại mô học, độ mô học, giai đoạn bệnh Dukes, kích thước bướu).

-Xác định mối liên quan đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh của carcinôm tuyến đại trực tràng

Qua Khảo sát 114 trường hợp bệnh nhân bị carcinôm tuyến đại trực tràng, nhóm nghiên cứu ghi nhận kết quả:

Về tỉ lệ một số đặc điểm lâm sàng (tuổi, giới tính, tiêu phân có máu, tiền sử bản thân bệnh việm đại trực tràng mạn tính, tiền sử bản thân bị polyp đại trực tràng, tiền sử gia đình bị ung thư đại trực tràng, đái tháo đường type 2, tập thể dục, hút thuốc lá, chỉ số khối cơ thể, di căn hạch, di căn xa).

Tuổi trung bình tại thời điểm chẩn đoán là 57,2 (± 15,1), gặp ở nam nhiều hơn nữ với  tỉ lệ nam:nữ là 1,7. Triệu chứng lâm sàng thường gặp là tiêu phân máu (85,09%), tiền sử bản thân bệnh viêm đại trực tràng mạn (14,91%), tiền sử bản thân bị polyp đại trực tràng (13,16%), tiền sử gia đình bị ung thư đại trực tràng (9,65%), bệnh nhân có đái tháo đường type 2 (31,58%), có tập thể dục (6,14%), hút thuốc lá (35,96%), chỉ số khối cơ thể > 23 (34,21%), di căn hạch (24,56%), di căn xa (8,77%).

Về tỉ lệ đặc điểm giải phẫu bệnh của carcinôm tuyến đại trực tràng (đại thể tổn thương, vị trí tổn thương, loại mô học, độ mô học, giai đoạn bệnh Dukes, kích thước bướu).

Tổn thương dạng sùi chiếm đa số (71,05%), vị trí tổn thương thường gặp là ở trực tràng (42,98%), loại mô học không chế nhầy nhiều hơn (89,47%), đa phần là độ mô học biệt hóa vừa (80,70%), giai đoạn bệnh Dukes B gặp thường (64,04%), phần lớn là bướu có kích thước > 50 mm (87,72%).

Về mối liên quan đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh của carcinôm tuyến đại trực tràng.

Liên quan giữa nhóm tuổi và vị trí tổn thương (p= 0,019), liên quan giữa loại mô học và vị trí bướu (trực tràng và đại tràng) (p=0,018), liên quan giữa di căn hạch và nhóm tuổi (p=0,007), liên quan giữa di căn xa và nhóm tuổi (p=0,008), liên quan giữa di căn xa và độ mô học (p=0,016), liên quan giữa di căn hạch và loại mô học (p=0,001).

Kết quả của đề tài, bước đầu đã cung cấp cho Bệnh viện cũng như các bác sỹ chuyên khoa có những thông tin bổ ích về ung thư đại trực tràng. Từ đó có những khuyến cáo phù hợp để phòng ngừa,  nâng chất lượng chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân trong thời gian tới.

Tác giả bài viết: Trần Ngọc Vĩ
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

 

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 158/2017 new (1)

Market Ban tin so 158 1 copy small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Chuyen de Pho bien kien thuc thang 9 (final) 1 copy small