19:13 ICT Thứ sáu, 23/06/2017
Rss Feed

Quyền sử dụng đất cần phải nghiên cứu một cách đồng bộ

Đăng lúc: Thứ hai - 04/01/2016 16:50 - Người đăng bài viết: Cộng tác viên

 

Luật Đất đai ban hành năm 2013 đã có hiệu lực thi hành được gần 2 năm, song việc thực hiện luật chưa thực sự đi vào cuộc sống. Nhiều địa phương rất lúng túng trong việc thực hiện luật. Mặc dù sau khi Luật Đất đai ra đời, Chính phủ đã ban hành 7 Nghị định, 15 Thông tư cua các Bộ hướng dẫn việc thực hiện với rất nhiều điều, song vẫn khó thực hiện.

Quyền sử dụng đất cần phải nghiên cứu một cách đồng bộ

Thực tế hiện nay quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước thường quan trọng hơn quyền của người sử dụng đất trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trong việc quyết định thu hồi đất, đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư… Người được giao quyền sử dụng đất chưa thể tham gia đầy đủ với tư cách vừa là người chủ sở hữu toàn dân vừa là người được giao quyền sử dụng đất.

Theo các chuyên gia của Hội Khoa học Đất Việt Nam cho biết, Nhà nước được tổ chức theo nhiều ngành, nhiều cấp trong những giới hạn chuyên môn và phạm vi lãnh thổ khác nhau nên cũng có lợi ích khác nhau trong một tổng thê phức tạp phải thống nhất, việc phân cấp là phù hợp với những nguyên lý của khoa học quản lý. Riêng đối với đất đai, một yếu tố đặc trưng trong quản lý, liên quan đến lợi ích của “toàn dân” theo nghĩa đến “từng người”, nên việc phân cấp cũng mang nét đặc thù, trong đó:

Thứ nhất là chú ý nhiều hơn đến cơ sở: trong hệ thống 4 cấp quản lý nhà nước hiện nay thì 3 cấp Trung ương, tỉnh, huyện vẫn là cấp vĩ mô, cấp tổng thể, chỉ có cấp xã mới là cấp cơ sở. Mọi khúc mắc trong quan hệ đất đai đều phải được giải quyết cơ bản ở cấp này, mọi quá trình phát triển của tài sản đất đai đều phải bắt đầu từ đây với sự “phân cấp” hiện nay rõ ràng là chưa đạt được yêu này?

Theo các chuyên gia cho biết, trong chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất thì địa tô là thể hiện về mặt kinh tế của quyền sở hữu; trong chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, giá trị tăng của đất đai được phân công bằng giữa nhà đầu tư và người sở hữu. Giá trị gia tăng của đất đai do điều kiện tự nhiên mà có thì thuộc về toàn dân, còn phần giá trị gia tăng nhờ vào việc tăng đầu tư vào đất đai mà có thì thuộc về nhà đầu tư. Nếu người đầu tư là Nhà nước thì phần giá trị gia tăng đó thuộc về sở hữu toàn dân. Tuy nhiên, trên thực tế, tình hình sẽ không đơn giản vì quan hệ đất đai được hình thành trong một thời gian dài của lịch sử, qua nhiều biến động về chính trị, kinh tế… pháp luật sẽ phải tìm được giải pháp điều chỉnh qua một hệ thống chính sách tài chính về đất đai phù hợp mà trọng tâm là các chính sách về giá đất, thuế đất và phí dịch vụ về đất đai, đồng thời còn phải hoàn thiện một hệ thống chính sách để điều hành ngân sách quốc gia liên quan đến nguồn thu từ đất, thành lập một tài khoản riêng về đất đai trong danh mục ngân sách nhà nước, làm cho đất đai thực sự trở thành nguồn lực của phát triển và cũng từ đó để cân bằng lợi ích giữa các ngành và các địa phương.

Theo như các chuyên gia thì trước mắt vẫn phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành có liên quan đến đất đai với những yêu cầu sau:

-Thống nhất các quy định từ Hiến pháp đến các sắc luật phát sinh như đất đai, dân sự, hình sự, doanh nghiệp, kinh doanh bất động sản, ngân sách…

 -Bám sát và nghiên cứu kỹ thực tiễn để giải quyết kịp thời những vấn đề của phát triển đang đặt ra, nhất là công tác nghiên cứu khoa học và áp dụng công nghệ trong quản lý, sử dụng đất đai, các giải pháp thúc đẩy quá trình vốn hóa đất đai.

Về lâu dài thì phải xây dựng và thực hiện đề án “Bộ Luật Đất đai” để đến 2020, khi Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hiện đại thì vấn đề đất đai đã đi vào thế ổn định để phát triển bền vững. Khắc phục tình trạng hiện nay, đứng trước một rừng pháp luật về đất đai mà không có lối đi rõ ràng. Như tính đến tháng 4/2015, để thi hành 212 Điều của Luật Đất đai 2013, Chính phủ đã ban hành 7 Nghị định, các Bộ đã ban hành 15 Thông tư và một Quyết định với tổng số 550 Điều. Nếu cộng thêm 212 Điều của Luật Đất đai 2013 thì đã có 762 Điều, đó là chưa tính đến phần liên quan về đất đai trong một số văn bản khác. Trong khi Bộ Luật Dân sự cũng chỉ có 777 Điều. Sau Hiến pháp, Bộ Luật Đất đai có thể so sánh được với Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Hình sự về phạm vi tác động trong đời sống xã hội và là một đảm bảo quan trọng cho sự phát triển ổn định, bền vững.

Theo ý kiến của các chuyên gia thì, tại Điều 192 của Bộ Luật Dân sự định nghĩ về quyền sử dụng như sau: “Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản”, tuy nhiên, định nghĩa này có mấy nhược điểm sau, đó là giao cho danh động từ này một nội hàm mà bản thân về ngữ nghĩa của nó là không có; có trường hợp không sử dụng tài sản mà vẫn hưởng hoa lợi; tạo ra sự “chồng lấn” về pháp lý giữa “sử dụng” và “hưởng lợi”. Theo đó, nên chăng hãy đưa thêm một thuật ngữ mới vào ngôn ngữ pháp lý là “quyền hưởng dụng” với hàm ý bao gồm một phần của các quyền chiếm giữ, quyền sử dụng và quyền hưởng lợi.

Từ quy định của Điều 163 Bộ Luật Dân sự, có thể thấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một loại tài sản. Đây là một vấn đề mới trong quan hệ dân sự vì việc sở hữu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang nhiều đặc thù mà các tài sản khác không có, trên thực tế đã xảy ra những tình huống phức tạp mà pháp luật chưa có đủ hành lang để điêu chỉnh.

Chính vì vậy, vấn đề “quyền sử dụng đất” phải được đặt ra để nghiên cứu một cách đồng bộ không chỉ trong quan hệ dân sự mà các trong quan hệ chính trị - xã hội.

Tác giả bài viết: HT
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

 

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 155/2017 new (1)

trang 1 small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Chuyen de Pho bien kien thuc thang 3 small