18:25 ICT Thứ bảy, 24/08/2019
Rss Feed

Những mục tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường đến năm 2020 - khả năng, triển vọng và những vấn đề đặt ra

Đăng lúc: Thứ hai - 24/01/2011 14:54 - Người đăng bài viết: Hoàng Quốc Trị

 
Liên hiệp hội Việt Nam đã tổ chức cho trí thức KH&CN cả nước góp ý vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng. Trong ảnh: Hội thảo tại Hà Nội

Liên hiệp hội Việt Nam đã tổ chức cho trí thức KH&CN cả nước góp ý vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng. Trong ảnh: Hội thảo tại Hà Nội

Tổng hợp ý kiến đóng góp của Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam vào dự thảo Văn kiện trình Đại hội XI của Đảng.

1. Theo dự thảo “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020” thì mục tiêu tổng quát đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Vậy theo tiêu chí nào để đánh giá nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp.

Theo chúng tôi, có 03 tiêu chí:

- Cơ cấu nền kinh tế là tiêu chí quan trọng hàng đầu;

- Cơ cấu nguồn nhân lực phục vụ cho công nghiệp hoá;

- Tỉ lệ áp dụng các công nghệ tiên tiến trong nền kinh tế.

  • Về cơ cấu nền kinh tế:

Chúng tôi nêu số liệu thống kê vào năm 2007 của một số nước trên thế giới để chúng ta suy xét:

+ Các nước công nghiệp hoá ở trình độ thấp:

Nước

Nông, lâm, ngư nghiệp % GDP (khu vực I)

Công nghiệp và xây dựng % GDP (KV II)

Dịch vụ % GDP (KV III)

KV II + III

Thái Lan

10,7

44,7

44,6

89,3

Malayxia

10,2

44,7

42,1

86,8

Trung Quốc

11,1

48,5

40,4

88,9

 

+ Các nước công nghiệp hoá ở trình độ cao:

Nước

KV I

KV II

KV III

KV II + III

Hàn Quốc

2,9

37,1

60,0

97,1

Nhật

1,4

29,3

69,3

98,6

 

+ Việt Nam:

Năm 

KV I

KV II

KV III

KV II + III

2000

24,53

36,73

38,74

75,47

2005

20,97

41,02

38,01

79,03

2010

20,30

41,50

38,20

79,70

2020 (theo dự thảo văn kiện)

15,00

 

 

85,00

 

Với cơ cấu nền kinh tế như trong Dự thảo văn kiện thì tới năm 2020 trình độ công nghiệp hoá ở nước ta vẫn còn thấp hơn Thái Lan, Malaixia vào năm 2007, nghĩa là ở vào loại nước công nghiệp ở trình độ quá thấp (tỷ trọng GDP ở khu vực II, III năm 2007 của 2 nước đã ở mức xấp xỉ 90, còn của nước ta mới ở mức 85). Như vậy, chúng ta sẽ tụt hậu xa so với các nước trong khu vực. Theo chúng tôi, cần phấn đấu để nâng tỷ trọng ở khu vực II + III vào năm 2020 lên 90% GDP (nhỉnh hơn Thái Lan và Malaixia vào năm 2007 chút ít), nhất là cần chú ý nâng tỷ trọng khu vực III (dịch vụ công nghiệp). Điều đó có cơ sở vì tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ hiện nay của nước ta cao hơn năm 2000; từ thực tế năm 2000-2005 tỷ trọng khu vực II - khu vực III đã tăng xấp xỉ 5% GDP. Như vậy trong 10 năm tới có khả năng tăng 10% là hiện thực. Chúng ta cần tính toán để bước vào thời kỳ tăng tốc mà không phải bước tịnh tiến như thời gian qua.

  • Về cơ cấu nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá:

Theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 thì công nhân chiếm khoảng 10% dân số, người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm khoảng 2,15%. Như vậy, nguồn nhân lực về khoa học và công nghệ còn ít về số lượng, cơ cấu bất hợp lý, không đồng bộ, trình độ và năng lực sáng tạo còn hạn chế (theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư - năm 2007).

Tỷ lệ cán bộ nghiên cứu khoa học ở nước ta còn rất thấp, chỉ có 0,18 người/100 dân; tỷ lệ này ở Hàn Quốc là 2,19 (gấp Việt Nam 12,2 lần), ở Mỹ là 3,67 (gấp Việt Nam 20,4 lần). Cán bộ làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu - triển khai (R&D) còn thấp nữa; 0,05%/100 dân (báo cáo của UNESCO - 2005).

Ở nước ta lao động nông nghiệp vẫn là chủ yếu (hơn 70% nông dân), nên năng suất lao động rất thấp. Theo báo cáo của UNDP (năm 2006) thì năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 55% so với Trung Quốc, 35% so với Thái Lan, 15% so với Malaixia, 5 - 6% so với Hàn Quốc.

Đây là một thách thức lớn đối với nước ta khi muốn trở thành nước công nghiệp. Không có con đường nào khác, nếu không muốn tụt hậu xa hơn, đó là phải có bước đột phá trong đào tạo và khoa học và công nghệ, đúng như trong Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) đã nêu - quốc sách hàng đầu.

Cần lưu ý rằng, chi phí cho nghiên cứu - triển khai ở Nhật Bản chiếm 3,04% GDP, ở Hàn Quốc chiếm 2,44% GDP, ở Singapore chiếm 2,03% GDP, ở Trung Quốc chiếm 1,03% GDP, ở Việt Nam chi chung cho khoa học và công nghệ chiếm 0,4% GDP (trong đó có phần cho nghiên cứu - triển khai). Như vậy, phải có đột phá không chỉ trong đào tạo nguồn nhân lực, mà cả trong KHCN.

§         Tỷ lệ áp dụng các công nghệ tiên tiến trong nền kinh tế:

Trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, với tính cạnh tranh cao, chúng ta không thể nhắm mắt nhập khẩu công nghệ bất kỳ (vì các nước luôn tìm cách đẩy công nghệ cũ sang nước khác), mà cần phải chọn lựa công nghệ tiên tiến, nhất là hướng tới công nghệ cao để thực hiện công nghiệp hoá. Đó là con đường tất yếu để công nghiệp hoá trong thời đại ngày nay.

Hiện nay ở nước ta, nhóm ngành công nghệ cao chỉ chiếm 21% tổng sản phẩm sản xuất, trong khi đó Thái Lan gấp Việt Nam 1,5 lần, Malaixia gấp 2,5 lần, Singapore gấp 3,5 lần. Sản phẩm công nghệ cao xuất khẩu của nước ta chỉ có 7%, còn của Trung Quốc là 27%, của Thái Lan là 30%, của Singapore là 54 % và Malaixia là 58%.

Nêu lên những con số cụ thể như thế để thấy rằng con đường xây dựng một nước công nghiệp theo hướng hiện đại còn nhiều chông gai, không đơn giản; cần có các mục tiêu cụ thể hơn nữa để phấn đấu trong 10 năm tới.

2. Về tốc độ tăng trưởng kinh tế

Theo bản Dự thảo văn kiện thì trong 10 năm tới tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người đạt 2.100 USD vào năm 2015 và 3.200 USD vào năm 2020.

Theo chúng tôi với tốc độ tăng trưởng GDP 8%/năm thì tới năm 2020 không thể đạt 3.200 USD/người, vì hiện nay tổng GDP của nước ta đạt khoảng 106 tỷ USD, tới năm 2015 đạt khoảng 156 tỷ USD và bình quân sẽ đạt 1.700 USD/người (dân số nước ta lúc đó đạt khoảng 92 triệu người), tới năm 2020 đạt khoảng 230 tỷ USD và bình quân sẽ đạt 2.370 USD/người (dân số lúc đó khoảng 97 triệu người).

Muốn đạt chỉ tiêu bình quân 3.200 USD/người vào năm 2020 thì cần điều chỉnh tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 11-12 %/ năm; Việc điều chỉnh tốc độ tăng trưởng là không đơn giản vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nên chúng tôi kiến nghị cần tính toán lại để điều chỉnh chỉ tiêu cho phù hợp.

3. Theo Dự thảo văn kiện thì huy động vốn đầu tư toàn xã hội bình quân trong 5 năm (2011 - 2015) đạt 40,5 - 41,5% GDP. Đây là một con số khá cao. Trong 5 năm (2006 - 2010) nguồn vốn đầu tư toàn xã hội đạt 42,5% GDP, mà tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 7%, nghĩa là hơn 6 đồng vốn đầu tư mới có 1 đồng tăng trưởng (chỉ số ICOR = 6). Ở nước ta chỉ số ICOR mỗi thời kỳ lại tăng: giai đoạn 1991 - 1995 ICOR = 2,2; giai đoạn 1996 - 2000 ICOR = 3,2; 2001 - 2005 là 4,2 và 2006 - 2010 là 6. Điều đó thể hiện hiệu quả đầu tư thấp do có một nguyên nhân quan trọng là lãng phí, thất thoát các dự án triển khai chậm, thiếu đồng bộ. Các nước xung quanh ta vốn đầu tư toàn xã hội chỉ vào khoảng 30 - 32%. Theo như Dự thảo văn kiện, vốn đầu tư toàn xã hội đạt 40,5 - 41,5% GDP mà tốc độ tăng trưởng là 7 - 8% GDP thì chỉ số ICOR vẫn cao, đạt từ 5 cho tới gần 6.

Nhiều chuyên gia kiến nghị, với điều kiện ở nước ta, để “khoan” sức dân, vốn đầu tư toàn xã hội không nên vượt quá 35% GDP. Với mức này, nếu giữ chỉ số ICOR như thời kỳ 2001 - 2006 là 4,2 thì tốc độ tăng trưởng GDP đạt gần 9%/năm và chỉ số ICOR như thời kỳ 1996 - 2000 là 3,2 thì tốc độ tăng trưởng GDP đạt trên 11%/năm.

Như vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và giảm tỷ lệ vốn đầu tư xã hội là hai định hướng quan trọng của chiến lược kinh tế 2011 - 2020.

Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì cần đưa các doanh nghiệp nhà nước vào hoạt động bình đẳng như các doanh nghiệp khác theo cơ chế thị trường, nhà nước không bù lỗ, xoá nợ; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân được quyền tham gia các dự án hạ tầng kỹ thuật, công nghiệp, dịch vụ theo hướng nâng cao chất lượng; chọn lựa đầu tư nước ngoài vào những lĩnh vực công nghệ cao, thân thiện môi trường. Cần đẩy mạnh việc chống tham nhũng và nâng cao việc quản lý kinh tế có chất lượng.

4. Nền kinh tế phải chuyển sang giai đoạn phát triển cao hơn, chất lượng hơn còn thể hiện ở chỗ cần sớm tiếp cận nhanh với kinh tế tri thức vì tiếp sau 10 năm nữa (2021 - 2030) đất nước hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới thì nền kinh tế tri thức sẽ đóng vai trò chủ đạo. Cho nên định hướng phát triển kinh tế trong 10 năm tới cần có phần chuẩn bị phát triển những doanh nghiệp công nghệ cao trong một số lĩnh vực phù hợp với điều kiện của nước ta. Trước mắt tăng cường nhập khẩu bí quyết công nghệ, đồng thời thúc đẩy nghiên cứu để nâng cao năng lực nội sinh. Sớm thúc đẩy hình thành ngành công nghiệp công nghệ thông tin - ngành nền tảng phát triển kinh tế tri thức - làm cơ sở cho phát triển các ngành công nghiệp khác. Trong thế kỷ 21 và trong cuộc cách mạng công nghệ toàn cầu 2020 thì công nghệ sinh học đang nổi lên thành vai trò chủ đạo, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Đối với nước ta, công nghệ sinh học cũng đã được ứng dụng trong y tế, dược phẩm, nông nghiệp. Cần có cơ chế, chính sách để thúc đẩy việc sớm đưa các kết quả nghiên cứu trong nước vào sản xuất, trong đó có các kết quả nghiên cứu về công nghệ nano và công nghệ vật liệu. Ba lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ nano và công nghệ vật liệu đang tạo nên cuộc cách mạng công nghệ toàn cầu trong 2 thập kỷ tới. Đấy là những đốm lửa nhen nhóm để tạo nên ngành công nghiệp trong tương lai của nước ta.

5. Về giáo dục và đào tạo, phần mục tiêu chủ yếu trong bản dự thảo viết quá sơ sài. Hiện nay, vấn đề giáo dục là một trong những vấn đề bức xúc của xã hội, không kém gì vấn đề chống tham nhũng. Chất lượng yếu, quản lý kém, mất công bằng, tham nhũng trong giáo dục, phát triển trường đại học, cao đẳng tràn lan, v.v.. Cho nên, mục tiêu trong 10 năm tới là đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Để đạt được mục tiêu tổng quát này, cần cân nhắc chọn lựa các mục tiêu cụ thể sau:

- Đầu tư của Nhà nước đóng vai trò chủ yếu, khoảng từ 22 - 25% ngân sách.

- Kiến cố hoá trường học (hiện nay còn 28% phòng học trong toàn quốc chưa được kiên cố, chủ yếu ở các vùng khó khăn); trang bị cơ sở vật chất cho các trường, hướng tới hiện đại hoá.

- Chấn chỉnh, sàng lọc đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục (phải là những người có năng lực, có tâm huyết) chống hiện tượng tiêu cực.

- Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, nhất là giáo viên cao đẳng, đại học, tận dụng các thầy giỏi.

- Cấu trúc lại các trường đại học, cao đẳng, nghề theo hướng liên kết đa ngành (hạn chế trường đơn ngành); giải thể trường kém chất lượng.

- Thực hiện công bằng trong giáo dục, hướng tới giáo dục tiểu học, trung học cơ sở công không phải trả tiền.

- Cộng đồng dân cư có trách nhiệm trong giáo dục trẻ em, học sinh.

- Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học theo hướng tinh giản, cơ bản, thiết thực; phát huy tính tự chủ, sáng tạo của người học.

- Giáo dục là chiếc “chìa khoá” mở cửa cho việc tiếp cận tới kinh tế tri thức, cho sự hội nhập và phát triển. Chúng ta phải thực sự quan tâm tới giáo dục không phải chỉ bằng lời nói, văn bản mà phải bằng hành động.

6. Về mục tiêu phát triển KH&CN trong bản Dự thảo văn kiện viết quá sơ sài. Chúng tôi kiến nghị như sau:

- Mục tiêu tổng quát là phát triển nền KH&CN Việt Nam phục vụ hiệu quả quá trình đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, từng bước tiếp cận với nền kinh tế tri thức; phấn đấu đạt trình độ trung bình tiên tiến trong khu vực ở một số lĩnh vực.

- Về mục tiêu cụ thể:

+ Thời gian qua, nước ta đầu tư cho KH&CN còn thấp, mới chỉ khoảng 0,5 - 0,6% GDP, đạt bình quân đầu người khoảng 5 USD; trong khi đó ở Trung Quốc khoảng 20 USD vào năm 2004, ở Hàn Quốc là 1.000 USD. Theo tính toán, nếu đầu tư cho KH&CN từ 1 - 2% GDP thì có có khả năng đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội tới 30 - 40%.

+ Trong 10 năm tới, tiếp tục đặt KH&CN thuộc quốc sách hàng đầu, đầu tư cho nó khoảng 1 - 1,5% GDP để KH&CN đóng vai trò quyết định cho tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.

+ Một mục tiêu không kém phần quan trọng là đổi mới căn bản việc quản lý KH&CN theo hướng tinh giản, hiệu quả và tiên tiến.

+ Về khoa học xã hội và nhân văn cần nghiên cứu việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị, về mô hình kinh tế thị trường phù hợp với điều kiện nước ta; nghiên cứu cơ bản về con người Việt Nam phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội.

+ Về khoa học tự nhiên nên tạo điều kiện để phát huy thế mạnh của Việt Nam là phát triển toán học, các lĩnh vực nghiên cứu lý thuyết (vật lý. hoá học.v.v.), nghiên cứu đối phó với biến đổi khí hậu ảnh hưởng tới nước ta.

+ Về công nghệ, tập trung nghiên cứu bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực quốc gia và phát triển một số công nghệ mũi nhọn phục vụ giai đoạn sau.

7. Các vấn đề nổi cộm liên quan tới môi trường như nước sạch; xử lý chất thải công nghiệp, chất thải y tế; độ che phủ, khôi phục rừng; đối phó với biến đổi khí hậu đã được đề cập xúc tích trong văn bản Dự thảo.

Tác giả bài viết: Phạm Văn Tân
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 181/2019 new (1)

Market Ban tin so 181 bia small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Trang 1 Chuyen de Pho bien kien thuc thang 6 2019 small