12:37 ICT Thứ bảy, 19/08/2017
Rss Feed

NHÌN LAI CHẶNG ĐƯỜNG PHỐI HỢP HÀNH ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM 12/2004- 12/2015

Đăng lúc: Thứ năm - 04/02/2016 13:21 - Người đăng bài viết: Cộng tác viên

 

Cách đây 11 năm, ngày 3/12/2004, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa hoc và Kỹ thuật Việt Nam ( Liên hiệp hội Việt Nam) 53 Nguyễn Du, Hà Nội đã diễn ra một sự kiện lịch sử, đánh dấu và mở đường cho Liên hiệp Hội Việt Nam tham gia vào sự nghiệp bảo vệ môi trường của quốc gia đó là Lãnh đạo Liên hiệp Hội Việt Nam và Lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ký kết Nghị quyết Liên tịch số 01/2004/NQLT-LHH-BTNMT về việc phối hợp hành động bảo vệ môi trường, phục vụ phát triển bền vững.

NHÌN LAI CHẶNG ĐƯỜNG PHỐI HỢP HÀNH ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG  CỦA LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC  VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM  12/2004- 12/2015

Nghị quyết này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với Liên hiệp Hội Việt Nam. Nó không chỉ thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nói chung và Bộ TN&MT nói riêng đối với giới trí thức KH&CN mà còn thể hiện một tư duy mới và khoa học đối với sự nghiệp BVMT. Với việc được tham gia và được cấp ngân sách cho hoạt động BVMT, Liên hiệp Hội Việt Nam đã có điều kiện để tập hợp lực lượng, phát triển tổ chức và quan trọng hơn là được thể hiện thiên chức và vai trò của trí thức KH&CN trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà BVMT là một hoạt động quan trọng.

Chặng đường 11 năm chưa phải dài nhưng cũng không phải quá ngắn để nhìn lại những gì hai bên đã làm và chưa làm được, ngõ hầu tìm kiếm các giải pháp để   cùng nhau thúc đẩy sự nghiệp BVMT quốc gia lên những tầm cao mới vì sự phát triển bền vững của đất nước.

  • BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA NGHỊ QUYẾT LIÊN TỊCH SỐ 01/2004/NQLT-LHH-BTNMT

 Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) là một tổ chức chính trị-xã hội của trí thức khoa học và công nghệ (KH&CN) Việt Nam. Mặc dù vậy, Liên hiệp Hội Việt Nam không tự động được hưởng Ngân sách sự nghiệp cho các hoạt động chuyên môn của mình. Để được hưởng vốn ngân sách sự nghiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam phải được các bộ/ngành đồng ý giao làm đầu mối kế hoạch chi Ngân sách sự nghiệp mà bộ/ngành đó quản lý. 

Trước năm 2004, tổng kinh phí hoạt động của Liên hiệp Hội Việt Nam chỉ trên dưới 1 tỷ đồng mỗi năm do Liên hiệp Hội Việt Nam mới chỉ được làm đầu mối kế hoạch của 2 nguồn chi ngân sách là chi quản lý hành chính và chi sự nghiệp KH&CN. Do đó số lượng các hoạt động khoa học, công nghệ  (KHCN) của Liên hiệp Hội Việt Nam rất hạn chế, các hoạt động bảo vệ môi trường (BVMT) của Liên hiệp Hội Việt Nam hầu như chưa có.

Trước thực trạng đó, Lãnh đạo Liên hiệp Hội Việt Nam, đặc biệt là cố GS.VS  Vũ Tuyên Hoàng đã chỉ đạo Ban KHCN&MT tìm kiếm các nguồn kinh phí cho hoạt động BVMT và vận may đã đến khi Bộ TN&MT được thành lập trên cơ sở tách mảng tài nguyên và môi trường ra khỏi Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN).

Bằng các mối quan hệ cá nhân của các cán bộ Ban KHCN&MT và được sự giúp đỡ của Cục Bảo vệ Môi trường (nay là Tổng cục môi trường), ý tưởng về một thoả thuận hợp tác giữa Liên hiệp Hội Việt Nam với Bộ TN&MT trong lĩnh vực BVMT đã được hình thành và được Lãnh đạo hai bên đồng ý.

Sau vài cuộc họp thảo luận,  Nghị quyết Liên tịch nêu trên đã được ký kết một cách nhanh chóng trong niềm hân hoan phấn khởi của hai cơ quan. Con số 01 của Nghị Quyết mang ý nghĩa lần đầu tiên Bộ TN&MT ký kết hợp tác với các tổ chức chính trị -xã hội.

 

Ngày 3/12/2004 xứng đáng là cột mốc lịch sử trong tiến trình phát triển của Liên hiệp hội Việt Nam     

  • KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT LIÊN TỊCH  01 GIAI ĐOẠN 2004-2015

Trong khuôn khổ Nghị quyết Liên tịch 01, với sự chỉ đạo và hướng dẫn của Bộ TN&MT, Liên hiệp Hội Việt Nam đã triển khai các hoạt động BVMT theo những nội dung phối hợp và đã đạt được những kết quả sau đây:

  • Số lượng dự án và kinh phí sự nghiệp môi trường giai đoạn 2004-2015

        Trong giai đoạn 2004-2015, Liên hiệp Hội Việt Nam được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp 35,090 tỷ đồng ngân sách sự nghiệp môi trường. Với khoản kinh phí này, Liên hiệp Hội Việt Nam đã thực hiện được 86 dự án BVMT với quy mô nhỏ. Tính trung bình mỗi năm có trên 8 dự án BVMT được thực hiện với kinh phí được cấp là trên 3 tỷ đồng. 

                              

Với số lượng dự án nói trên, mục tiêu “Tập hợp và phát huy tối đa tiềm lực trí tuệ của đội ngũ cán bộ KH&CN thuộc mọi thành phần kinh tế phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường” (Nghị quyết 01) đã phần nào đạt được. Hàng chục lượt tổ chức KH&CN và hàng ngàn trí thức và chuyên gia đã được huy động để thực hiện các nhiệm vụ BVMT. Không những vậy, việc triển khai các hoạt động BVMT tại cộng đồng cũng đã lôi kéo được chính quyền và đông đảo người dân địa phương tham gia, góp phần cải thiện điều kiện vệ sinh và môi trường sống tại cộng đồng.  

2.2. Hỗ trợ xây dựng các mô hình vệ sinh, BVMT tại cộng đồng  

Với đội ngũ chuyên gia môi trường đông đảo và một hệ thống gần 400 tổ chức KH&CN, Liên hiệp Hội Việt Nam có nhiều lợi thế trong việc thực hiện các dự án can thiệp cộng đồng. Chính vì vậy việc xây dựng các mô hình BVMT tại cộng đồng là một hoạt động ưu tiên của Liên hiệp Hội Việt Nam với mục đích chuyển giao kiến thức và công nghệ môi trường tới người dân. Đây là hoạt động hỗ trợ cộng đồng tham gia vào  BVMT do đó người hưởng lợi chủ yếu là người dân trong vùng dự án. Trong 11 năm qua Liên hiệp hội đã  xây dựng 27 mô hình vệ sinh, BVMT tại cộng đồng. Các mô hình BVMT này rất đa dạng bao gồm mô hình xử lý nước thải sinh hoạt, xử lý nước thải trong chăn nuôi gia súc, xử lý nước thải làng nghê, mô hình cấp nước sạch quy mô hộ gia đình đến mô hình cấp nước cho cụm dân cư và các cơ quan, trường học. Các mô hình kinh tế sinh thái, mô hình kinh tế xanh kết hợp du lịch sinh thái, mô hình cải tạo đất thoái hoá bằng giải pháp sinh học, mô hình văn hoá môi trường, mô hình khai thác bảo tồn cây dược liệu quý hiếm cũng đã mang lại các kết quả khả quan và nhiều trong số đó đã trở thành các điển hình thành công về việc lồng ghép vấn đề BVMT trong phát triển kinh tế - xã hội.

11140320 1531623033825580 4290428501465731849 n

Việc hỗ trợ xây dựng các công trình vệ sinh môi  trường tại cộng đồng còn  được lồng ghép trong nội dung của một số dự án BVMT như hỗ trợ người dân vùng trũng xử lý nước nhiễm asen (Nam Định), hỗ trợ xây dựng mô hình cung cấp nước sinh hoạt cho hộ gia đình (Hà Tĩnh), mô hình xử lý nước thải làng nghề (Hà Tây), mô hình xử lý và tái chế rác thải sinh hoạt (Vĩnh Phú), mô hình xử lý nước thải chợ quê (Bắc Ninh), Giải pháp cải tạo đất hoang hoá và đất trống đồi núi trọc, đất dốc bằng thảm thực vật thích hợp (Hoà Bình, Bắc Giang, Tuyên Quang), Nghiên cứu và ứng dụng thành công công nghệ tái chế rác thải sinh hoạt thành vật liệu xây dựng (Phú Thọ, Quảng Ninh); Xây dựng thành công mô hình hoàn phục môi trường sau khai thác mỏ ở Tuyên Quang; Xây dựng thành công các mô hình xoá đói giảm nghèo kết hợp BVMT ở vùng Trung du Bắc Bộ đó là mô hình trồng rừng kết hợp chăn nuôi, mô hình biogas, mô hình canh tác đa tầng để cải tạo đất ở Bắc Giang, Đắc Nông, Hà Tây; Xây dựng thành công mô hình bảo tồn đa dạng sinh học vùng đệm khu bảo tồn quốc gia, bảo tồn cây dược liệu quý hiếm tại cộng đồng ở Sa Pa, Tây Yên Tử và Vĩnh Phúc.

Những sự hỗ trợ này đã giúp cho các hộ gia đình và cộng đồng tại vùng dự án cải thiện được phần nào môi trường sống hợp vệ sinh và qua đó hạn chế việc thải các chất ô nhiễm ra môi trường xung quanh. 

2.3.Xử lý ô nhiễm môi trường

Việc xử lý ô nhiễm môi trường là một vấn đề khoa học công nghệ, đòi hỏi phải được đầu tư lớn về kinh phí. Trong khuôn khổ mức ngân sách sự nghiệp môi trường được cấp quá thấp nên Liên hiệp Hội Việt Nam chưa thực hiện đuợc các dự án xử lý ô nhiễm môi trường có quy mô lớn mà chỉ có thể lồng ghép vấn đề này trong các dự án nhỏ liên quan đến chuyển giao công nghệ môi trường cho cộng đồng. Trong 11 năm qua Liên hiệp Hội Việt Nam đã thực hiện được 24 dự án có nội dung xử lý ô nhiễm môi trường (đất, nước). Trong các dự án này các nhà khoa học Việt Nam đã bước đầu ứng dụng các kỹ thuật và công nghệ tiên tiến trong xử lý ô nhiễm như công nghệ lọc nước nano, công nghệ sinh học, các kỹ thuật lọc nước bằng gốm sứ. Đặc biệt, với cách tiếp cận dựa vào cộng đồng, các đơn vị thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam đã huy động được người dân địa phương tham gia xử lý, cải tạo ô nhiễm nước ở các ao hồ để tạo cảnh quan môi trường xanh sạch tại địa phương .   

  • Điều tra cơ bản tài nguyên và đánh giá tác động môi trường

Với một lực lượng hùng hậu 77 Hội ngành TW và 62 LHH địa phương và hơn  400 tổ chức KH&CN trực thuộc rải khắp đất nước, với hàng ngàn chuyên gia và nhà khoa học môi trường,  có thể nói việc điều tra tài nguyên và đánh giá tác động môi trường là thế mạnh trong hoạt động BVMT của Liên hiệp Hội Việt Nam. Điều này không chỉ bởi chuyên môn đa dạng của các nhà khoa học mà còn bởi các thông tin về TN&MT là cơ sở cho việc xây dựng các chính sách và mô hình BVMT trong thực tiễn. Chính vì vậy, trong 11 năm qua Liên hiệp Hội Việt Nam đã thực hiện 33 dự án điều tra tài nguyên và các yếu tố môi trường . Nội dung điều tra của các dự án rất đa dạng, từ điều tra các giống cây con đặc sản, bản địa, sinh vật, đất, nước, không khí, địa chất-thuỷ văn cho đến các sự cố và rủi ro môi trường. Chẳng hạn như điều tra tình trạng ô nhiễm môi trường do khai thác đá vôi ở Hà Nam, khai thác mỏ ở Quảng Ninh, khai thác titan ở Hà Tĩnh; điều tra đánh giá việc suy thoái rừng phòng hộ ven biển phía Bắc, điều tra tình trạng sụt lở trượt đát trên các quốc lộ vùng Tây Bắc, điều tra ảnh hưởng địa động lực đến các công trình thuỷ điện Sơn La, sông Đà, sông Tranh, điều tra xây dựng cơ sở dư liệu về động đất và tai biến môi trường khu vực miền núi phía bắc và tây Tây Bắc. Xuất bản sách về tai biến động đất. Thiết lập trang web cảnh báo tai biến môi trường, điều tra xây dựng cơ sở dữ liệu về tân kiến tạo và địa động lực khu vực đồng bằng bắc bộ và dải ven biển.

Đặc biệt, trong những năm gần đây, Liên hiệp Hội Việt Nam còn thực hiện các điều tra về biến đổi khí hậu như là một sự thực thi nhiệm vụ của Uỷ viên Uỷ ban Quốc gia về Biến đổi Khí hậu. Những thông tin thu thập được từ các cuộc điều tra này không chỉ làm căn cứ cho các hoạt động khác của mỗi dự án mà nó còn được tham khảo bởi các địa phương và khu vực trong quá trình hoạch định chính sách và quy hoạch phát triển KT-XH của địa phương. Không chỉ có vậy, dưới giác quan của các nhà khoa học và chuyên gia môi trường, các đánh giá tác động môi trường các hoạt động kinh tế, các dự án, công trình, các chương trình phát triển KT-XH đã góp phần cảnh báo cho các chủ đầu tư và chính quyền địa phương về các nguy cơ và rủi do khi thực hiện mà nhờ đó có các điều chỉnh cần thiết để hạn chế các thiệt hại. Có thể nói rằng việc thực hiện các dự án này đã gúp phần cải thiện chất lượng công trình và công tác hoạch định chính sách phát triển kinh tế ở địa phương cũng như các bộ/ngành.   

  • Đào tạo, tập huấn, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về BVMT

Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân do đó việc nâng cao nhận thức cho cộng đồng là một hoạt động quan trọng của Liên hiêp Hội Việt Nam. Trong giai đoạn 2004-2015, Liên hiệp Hội Việt Nam đã thực hiện được 16 dự án  nâng cao nhận thức về môi trường cho người dân và các tổ chức liên quan như: nâng cao nhận thức về BVMT và phát triển bền vững cho các tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, nâng cao nhận thức cho người Mường về việc bảo tồn đa dạng sinh học và cây thuốc bản địa, tuyên truyền và tổ chức các chiến dịch xanh sạch hưởng ứng ngày môi trường thế giới (5/6). Hoạt động truyền thông và nâng cao nhận thức cho cộng đồng còn tập trung vào phổ biến các nội dung của Luật và các chính sách BVMT liên quan cũng như truyền bá các kiến thức BVMT và các mô hình BVMT hiệu quả. Các sản phẩm truyền thông dạng tài liệu, tờ rơi, tờ bướm, áp phích, đĩa CD, VCD về BVMT đã cung cấp cho người dân và doanh nghiệp các thông tin bổ ích mà qua đó nâng cao nhận thức của họ về vấn đề BVMT, góp phần thay đổi hành vi ứng xử với môi trường theo hướng tích cực hơn. 

Hoạt động truyền thông môi trường còn là thế mạnh của Liên hiệp hội khi có hơn 40 đơn vị chuyên về lĩnh vực giáo dục và truyền thông và gần 200 đầu báo và tạp chí trên khắp cả nước. Chính vì vậy hàng trăm bài báo và thông tin về môi trường được đăng tải hàng ngày trên hệ thống báo chí của Liên hiệp Hội Việt Nam cũng đã góp phần nâng cao nhận thức cho cộng đồng về các vấn đề môi trường.

Ngoài ra, Liên hiệp Hội Việt Nam cũng đã tổ chức rất nhiều các hội nghị, hội thảo và tập huấn cho người dân và các tổ chức khác nhau về các vấn đề liên quan đến BVMT. Những hoạt động này kèm theo với các chiến dịch như chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn, tổ chức ngày môi trường thế giới v.v đã thu hút sự quan tâm của cộng đồng đối với vấn đề BVMT, khuấy động phong trào và giúp nâng cao nhận thức cho cộng đồng về BVMT.

  • Hoạt động tư vấn, phản biện trong lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường

Với chức năng tư vấn, phản biện và giám định xã hội do Chính Phủ giao, Liên hiệp Hội Việt Nam cũng đã thúc đẩy các dự án tư vấn phản biện các vấn đề môi trường và chính sách về BVMT. Tuy nhiên do thiếu đơn đặt hàng nên số lượng các dự án loại này chưa nhiều.  Mặc dù vậy, một số vấn đề như chính sách tài chính cho việc xử lý rác thải đô thị; chính sách truyền thông môi trường, chính sách quản lý, vận hành quỹ BVMT, chính sách tư vấn giám sát môi trường cộng đồng  cũng được lồng ghép trong một số dự án . Các hoạt động phản biện báo cáo tác động môi trường chiến lược và báo cáo tác động môi trường các dự án đầu tư phát triển được Liên hiệp Hội Việt Nam thực hiện khá thành công. Điển hình là việc phản biện dự án khai thác Bauxit Tây nguyên, Dự án đường Hồ Chí Minh, dự án thay nước Hồ Tây dự án xây dựng Khu Du lịch Tam Đảo v.v. Các ý kiến phản biện của Liên hiệp Hội Việt Nam đã được Chính Phủ và xã hội hoan nghênh và đánh giá cao. Uy tín của Liên hiệp Hội Việt Nam đã được nâng lên rõ rệt qua các hoạt động này.

Trong những năm gần đây, việc Liên hiệp Hội Việt Nam và các tổ chức trực thuộc tích cực tham gia phản biện, đóng góp ý kiến cho việc sửa đổi Luật môi trường. Rất nhiều ý kiến của Liên hiệp Hội Việt Nam đã được ban soạn thảo tiếp thu để hoàn thiện Luật này và đã được Quốc Hội phê chuẩn.

  • Hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường

Mặc dù ngân sách sự nghiệp BVMT không có khoản chi cho hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này, nhưng Liên hiệp Hội Việt Nam nhận  thấy vấn đề môi trường là vấn đề toàn cầu do đó việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này là cần thiết và rất quan trọng. Với năng lực chuyên môn và tinh thần chủ động khai thác các nguồn lực quốc tế cho vấn đề BVMT nên Liên hiệp Hội Việt Nam đã tạo mọi điều kiện cho các đơn vị mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này. Kết quả là từ 2005 trở lại đây trung bình mỗi năm Liên hiệp Hội Việt Nam đã huy động được từ 2-3 triệu đô la Mỹ cho các hoạt động khoa học và công nghệ  trong đó có các hợp tác về môi trường và biến đổi khí hậu. Những hợp tác quốc tế về lĩnh vực này không chỉ huy động  được những nguồn tài chính to lớn cho đất nước mà còn giúp quảng bá hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế nhất là sự tham gia của giới KH&CN Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề môi trường khu vực và thế giới. Những hoạt động nổi bật về hợp tác  quốc tê trong lĩnh vực môi trường đó là tham gia Chương trình ứng phó biến đổi khí hậu ở các nước tiểu vùng sông Mê Kông, Chương trình hợp tác với Hà Lan và Đan Mạch về sinh kế và ứng phó biến đổi khí hậu ở khu vực miền Trung, tổ chức các hội thảo quốc tế về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững tại Việt Nam và tham gia các hội thảo và diễn đàn khu vực ASEAN về chủ đề này.

3. Đánh giá kết quả phối hợp hành động BVMT của Liên hiệp Hội Việt Nam

  • Đánh giá chung

Các hoạt động BVMT của Liên hiệp Hội Việt Nam đã bám sát các nội dung của Nghị quyết Liên tịch và tuân thủ sự chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ TN&MT cũng như các Bộ/Ngành liên quan. Sự tham gia đông đảo của các nhà KH&CN thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam vào công tác BVMT là một minh chứng rõ nhất cho mục tiêu tập hợp trí tuệ cho công tác này.

Mặt khác, với ưu thế nổi trội về sự đa ngành, liên ngành kết hợp với chuyên môn sâu trong từng lĩnh vực, các nhà khoa học thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam đã tham gia giải quyết hầu hết các vấn đề môi trường mà trong đó nổi bật nhất là việc chuyển giao các tiến bộ về khoa học và công nghệ môi trường vào thực tiễn, thể hiện qua hàng loạt các mô hình BVMT hiệu quả tại cộng đồng. Không chỉ có vậy các hoạt động điều tra cơ bản môi trường và tư vấn phản biện đã cung cấp các cơ sở khoa học có giá trị cho việc hoạch định chính sách, pháp luật về môi trường.

Với một hệ thống tổ chức đông đảo và đa dạng các cơ quan truyền thông và nghiên cứu KHCN&MT, Liên hiệp Hội Việt Nam đã thể hiện được vai trò và thiên chức khai sáng thông qua các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức về BVMT cho đông đảo công chúng và cộng đồng dân cư. Các hoạt động này  đã góp phần quan trọng vào thay đổi hành vi và sự ứng xử với môi trường, hạn chế đáng kể việc xả thải vào môi trường tại cộng đồng. 

Tuy nhiên các hoạt động BVMT của Liên hiệp hội Việt Nam phần lớn là các hoạt động quy mô nhỏ do đó phạm vi ảnh hưởng và tác động đến xã hội còn hạn chế;  Các kết quả BVMT phần lớn ở dạng sản phẩm thông tin khoa học mà ít có các sản phẩm  có khả năng nhân rộng và lan toả trong toàn quốc.

Khó khăn, thuận lợi trong công tác bảo vệ môi trường 

  •  Thuận lợi

- Khuôn khổ pháp lý cho Liên hiệp hội Việt Nam tham gia các hoạt động BVMT được xác định rõ ràng đó là Nghị quyết liên tịch số 01 ngày 3 tháng 12 năm 2004 ký giữa Bộ TN&MT với Liên hiệp hội Việt Nam;

- Quy trình và thủ tục xây dựng kế hoạch BVMT được công bố công khai minh bạc và có sự hướng dẫn chi tiết, tận tình của Bộ TN&MT về lập kế hoạch BVMT hàng năm

- Các văn bản pháp quy của Nhà nước về BVMT được cung cấp đầy đủ do đó thông tin cần thiết cho viêc xây dựng kế hoạch BVMT được tham khảo dễ dàng.

- Việc trao đổi thảo luận kế hoạch với Bộ TN&MT diễn ra công khai, dân chủ, có thiện chí hợp tác và có nhiều tiến bộ theo hướng bài bản và khoa học hơn.

- Quy trình và thủ tục xét tuyển, lựa chọn dự án, chủ nhiệm dự án và đơn vị thực hiện được tiến hành có bài bản, khoa học, công khai dân chủ do đó việc triển khai kế hoạch được thông suốt. Các chủ dự án là những nhà khoa học có uy tín và trình độ cao do đó việc thực hiện dự án diễn ra khá nghiêm túc và có chất lượng.

- Cơ quan chủ quản, cơ quan quản lý và cơ quan thực hiện có sự phối hợp nhịp nhàng và có tinh thần hợp tác cao do đó công tác thanh kiểm tra, giám sát, nghiệm thu sản phẩm đuợc tiến hành thông suốt, kịp thời.

  •  Khó khăn

- Vai trò quan trọng của Liên hiệp hội Việt Nam đã được thể chế hoá bằng nhiều chỉ thị và văn bản của Đảng và Nhà nước nói chung và Nghị quyết liên tịch số 01 với Bộ Tài nguyên và Môi trường nói riêng, nhưng việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn do nhận thức và sự phối hợp của một số cơ quan liên quan chưa thống nhất đã hạn chế sự đóng góp của Liên hiệp Hội Việt Nam đối với công tác BVMT.

- Cơ sở dữ liệu và thông tin về các dự án BVMT của quốc gia không có và không được công khai đã gây khó khăn, lúng túng cho các đơn vị của Liên hiệp Hội Việt Nam khi xác định các nhiệm vụ BVMT của mình.

- Nội dung chi ngân sách sự nghiệp môi trường không có sự khác biệt giữa Trung ương và Địa phương trong khi lại có sự phân cấp quản lý ngân sách BVMT giữa Trung ương và địa phương khiến các Liên hiệp Hội Khoa học và Kỹ thuật địa phương khó tiếp cận nguồn vốn ngân sách BVMT ở Trung ương và ngược lại. Mặc dù Nghị quyết 01 giao cho các Sở TN&MT địa phương hỗ trợ các Liên hiệp Hội địa phương nhưng thực tế sự hỗ trợ này rất hạn chế.

- Việc lập kế hoạch hàng năm thường diễn ra song phương (giữa Bộ TN&MT với Liên hiệp Hội Việt Nam và giữa Liên hiệp Hội Việt Nam với Bộ Tài chính) mà không có sự thảo luận 3 bên, cộng với sự khác biệt về quy trình, thủ tục và thời điểm bảo vệ kế hoạch giữa hai Bộ đã dẫn tới sự thiếu thống nhất giữa Bộ TN&MT và Bộ Tài chính về kế hoạch BVMT của Liên hiệp Hội Việt Nam. Sự không thống nhất và mâu thuẫn giữa phê chuẩn về mặt chuyên môn của Bộ TN&MT với phê chuẩn ngân sách của Bộ Tài chính trong nhiều năm qua gây khó khăn cho việc xây dựng kế hoạch BVMT và phân bổ tài chính cho các dự án BVMT của Liên hiệp Hội Việt Nam. Đặc biệt, trong 6 năm trở lại đây ngân sách BVMT cấp cho Liên hiệp hội Việt Nam giảm sút một cách nghiêm trọng từ 7,3 tỷ đồng năm 2009 xuống còn 1,0 tỷ đồng năm 2015. Rất nhiều dự án BVMT có giá trị của các nhà khoa học đã bị dừng giữa trừng vì thiếu kinh phí .

 

- Những vấn đề BVMT mà các thành viên LHHVN đề nghị chủ yếu là vấn đề khoa học. Nhiều Chương trình mục tiêu quốc gia trong lĩnh vực này đã không có chỗ cho Liên hiệp Hội Việt Nam tham gia. Mặt khác các dự án BVMT thường đòi hỏi kinh phí lớn và kéo dài nhiều năm để có thời gian phát huy tác dụng nhưng ngân sách sự nghiệp môi trường cấp cho Liên hiệp Hội Việt nam quá thấp, lại duyệt hàng năm mà không có sự bảo đảm trước về mức kinh phí  do đó rất khó cho LHHVN chủ động tiến độ và đảm bảo chất lượng dự án. Nhiều dự án BVMT đã phải dừng giữa chừng hoặc kéo dài thời gian gây lãng phí vốn ngân sách và giảm hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực này.

- Chế độ tài chính cho hoạt động BVMT mặc dù đã được sửa đổi nhiều lần nhưng định mức, đơn giá nói chung còn thấp, chưa tương xứng với giá trị chất xám của nhà khoa học và nhất là không theo kịp giá cả thị trường đã ảnh hưởng không tốt tới chất lượng thực hiện dự án BVMT. Sự không thống nhất giữa các Bộ/ngành về quy trình và thủ tục thanh quyết toán ngân sách sự nghiệp BVMT đã gây khó dễ cho công tác thanh quyết toán tài chính dự án, gây búc xúc đối với các nhà khoa học.

4. Đôi điều khuyến nghị

 

Liên hiệp Hội Việt Nam hiện nay gồm 77 Tổng hội/Hội ngành trung ương, 62 Liên hiệp Hội tỉnh/thành và 600 tổ chức KH&CN trong đó hơn 400 tổ chức trực thuộc Cơ quan Trung ương Liên hiệp hội Việt Nam. Một hệ thống xuyên suốt cả nước với 2,3 triệu trí thức KHCN&MT không thể không đóng góp trí tuệ cho sự nghiệp BVMT của quốc gia. Bất luận vì lý do gì thì việc tập hợp sức mạnh tri thức cho hoạt động này cần phải được đẩy mạnh hơn.

Chỉ thị 42-CT/TW ngày 16/4/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Liên hiệp Hội Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nêu rõ định hướng của các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của Liên hiệp Hội Việt Nam trong giai đoạn tới như sau “áp dụng có hiệu quả những tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, đời sống”; “Mở rộng và đa dạng hoá các hình thức hợp tác về khoa học và công nghệ với các bộ, ngành, doanh nghiệp và các tổ chức khác trong và ngoài nước”; “Phát huy dân chủ, tôn trọng tự do sáng tạo trong hoạt động khoa học và công nghệ nhằm thu hút, tập hợp ngày càng đông đảo trí thức khoa học và công nghệ tham gia hoạt động hội”. Đồng thời Chiến lược phát triển Liên hiệp Hội Việt Nam giai đoạn 2010-2020 cũng xác định Liên hiệp Hội Việt Nam “Trở thành đối tác quan trọng của Nhà nước trong việc thực hiện các chương trình, đề án trọng điểm, các hoạt động xã hội hoá, dịch vụ công trong lĩnh vực KH&CN, GD&ĐT, y tế, bảo vệ môi trường và phát triển cộng đồng, xoá đói giảm nghèo”.

Để thực hiện Chỉ thị 42-CT/TW và Chiến lược phát triển của Liên hiệp hội Việt Nam, bên cạnh những nỗ lực của chính LHHVN, những kiến nghị sau đây cần được Chính phủ quan tâm giải quyết : :

  • Cần nghiên cứu và ban hành cơ chế và chính sách hỗ trợ Liên hiệp hội Việt Nam tham gia và thực hiện các chiến lược, chương trình, dự án BVMT của quốc gia, bộ/ngành và địa phương;
  • Tăng cường hỗ trợ nguồn lực từ ngân sách nhà nước để nâng cao năng lực cho các tổ chức của Liên hiệp hội Việt Nam tham gia và thực hiện các hoạt động BVMT;
  • Tiếp tục nghiên cứu đổi mới cơ chế giao nhiệm vụ và phân bổ ngân sách BVMT, tiến tới giải pháp  tổ chức đấu thầu giao nhiệm vụ cho các tổ chức trong và ngoài nhà nước thực hiện các dự án bảo vệ môi trường./.
Tác giả bài viết: Ngô Thuần Khiết
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

 

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 157/2017 new (1)

Trang 1 Market Ban tin so 157 small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Trang cd thang 6 small