01:42 ICT Thứ tư, 17/10/2018
Rss Feed

Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam qua các kỳ đại hội (Phần 2)

Đăng lúc: Thứ năm - 25/02/2010 00:00

 
Đoàn Chủ tịch Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III LHH VN (Hà Nội, 27-28/9/1993)

Đoàn Chủ tịch Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III LHH VN (Hà Nội, 27-28/9/1993)

Trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, sau khi Liên Xô tan rã và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, nước ta đứng trước những khó khăn vô cùng to lớn. Tình hình đó đã ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động và sự phát triển của Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên.

Thời kỳ này, vượt qua mọi khó khăn, thiếu thốn, nhiều hoạt động mới của Liên hiệp hội Việt Nam dần dần được định hình, trong đó tư vấn, phản biện và giám định xã hội là một phương hướng hoạt động lần đầu tiên được triển khai thực hiện với luận chứng kinh tế - kỹ thuật công trình thuỷ điện Yaly trên sông Sê san (tỉnh Gia Lai) và tài liệu kỹ thuật công trình đường dây tải điện 500 kV Bắc - Nam do hãng Nippon Koei (Nhật Bản) lập.

Trong hai ngày 27 và 28 - 9 - 1993, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Liên hiệp hội Việt Nam đã được tiến hành tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội). Về dự đại hội có 184 đại biểu thay mặt cho 34 hội ngành toàn quốc và 8 liên hiệp hội địa phương. Tổng Bí thư Đỗ Mười, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Đình Tứ, Giáo sư Nguyễn Đức Bình, các đồng chí Vũ Oanh, Lê Quang Đạo, Nguyễn Khánh, đại diện các tổ chức thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhiều bộ, ban, ngành ở Trung ương và Thủ đô Hà Nội cùng một số khách nước ngoài đã đến dự Đại hội.

Phát biểu ý kiến chỉ đạo Đại hội, Tổng Bí thư Đỗ Mười nhấn mạnh: “Hoạt động của Liên hiệp hội và các hội thành viên đã góp phần tích cực nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hợp tác trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, tham gia vào việc biên soạn hoặc đảm nhận vai trò tư vấn, phản biện và giám định các dự thảo về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các dự luật, các dự án kinh tế - xã hội và khoa học, công nghệ ở tầm quốc gia.

Nhiệm vụ đặt ra trong chặng đường tới cũng rất nặng nề, có thể nói còn nặng nề hơn trước. Phải tăng cường ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm môi trường trong nước và quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh công nghiệp hoá, xây dựng dựng đất nước, làm cho nền kinh tế phát triển lành mạnh với nhịp độ cao và liên tục, cải thiện đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường, đem lại cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc cho toàn dân. Đội ngũ đông đảo trí thức nước nhà và tổ chức của nó là Liên hiệp hội phải đảm nhiệm vai trò xứng đáng trong việc thực hiện sự nghiệp trọng đại đó”.

Trong lời phát biểu chào mừng Đại hội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Sự phát triển nhanh và lớn như vậy chứng tỏ hình thức tổ chức các hội khoa học và kỹ thuật đã đáp ứng được nguyện vọng của đại đa số cán bộ khoa học và kỹ thuật, của giới trí thức. Đây là một hình thức tổ chức dân chủ, tự nguyện, một tổ chức phi chính phủ mang tính chất tự chủ, tự quản. Hoạt động trong các hội khoa học và kỹ thuật, các đồng chí không bị ràng buộc và ngăn cách bởi sự phân chia hành chính. Đó là tính ưu việt của hình thức tổ chức của Liên hiệp hội”.

Với tinh thần đoàn kết, đổi mới và xây dựng, các đại biểu đã thảo luận sôi nổi, thông qua báo cáo của Hội đồng Trung ương (khoá II) cùng các văn kiện quan trọng khác và bầu ra Hội đồng Trung ương (khoá III) gồm 95 uỷ viên. Hội đồng Trung ương (khoá III) tiếp tục suy tôn Giáo sư Viện sĩ Trần Đại Nghĩa làm Chủ tịch danh dự, bầu Đoàn Chủ tịch gồm 11 uỷ viên với Giáo sư Tiến sĩ Hà Học Trạc làm Chủ tịch, Giáo sư Phan Huy Lê, Tiến sĩ Phạm Sỹ Liêm, Giáo sư Tiến sĩ khoa học Nguyễn Hữu Tăng làm Phó Chủ tịch và Phó Giáo sư Tiến sĩ Hồ Uy Liêm làm Tổng Thư ký, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Liên hiệp hội Việt Nam (khoá II) là Cử nhân Trần Cư.

Lần đầu tiên tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III xuất hiện biểu trưng của Liên hiệp hội Việt Nam, sử dụng yếu tố cơ bản là một hình tam giác đều, được hợp thành bởi 3 chữ V (chữ đầu của từ Việt Nam và VUSTA), đặt trong biên hình tròn có dòng chữ “LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM – VUSTA”.

Hình tam giác đều trong tượng trưng cho 3 lĩnh vực hoạt động chủ yếu của Liên hiệp hội Việt Nam là khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật. Các chữ V vừa là bộ phận của hình tam giác đều, vừa liên kết với nhau, gợi nên hình dáng của những cánh chim đang tung bay, ẩn dụ ý nghĩa sau: đoàn kết trong Liên hiệp hội Việt Nam, hoạt động khoa học và kỹ thuật sẽ có điều kiện để phát triển, vươn cao, vươn xa mãi (theo hoạ sĩ Nguyễn Duy Lẫm, tác giả mẫu biểu trưng đoạt giải Nhất trong cuộc thi sáng tạo được Liên hiệp hội Việt Nam tổ chức trước thềm Đại hội).

Ngày 24 – 12 – 1996, lần đầu tiên, Liên hiệp hội Việt Nam được nêu đích danh trong một nghị quyết quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đó là Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) về định hướng phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000, trong đó có đoạn: “Củng cố và tăng cường hoạt động của các hội khoa học và kỹ thuật nhằm tập hợp rộng rãi các lực lượng trí thức. Phát huy vai trò chính trị - xã hội của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật ở trung ương và địa phương trong việc phổ biến và ứng dụng kiến thức khoa học vào sản xuất và đời sống. trong nghiên cứu khoa học, triển khai công nghệ và bảo vệ môi trường, cũng như trong công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội. Đảng và Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các hội khoa học và kỹ thuật”.

Trong nhiệm kỳ III (1993 - 1998) diễn ra một sự kiện đặc biệt quan trọng là ngày 11 - 11 - 1998, Bộ Chính trị (khoá VIII) ra Chỉ thị 45-CT/TW về đẩy mạnh hoạt động của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, trong đó nêu rõ: “Liên hiệp hội là một tổ chức chính trị - xã hội của trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam, cùng với các đoàn thể chính trị - xã hội khác tạo thành lực lượng nòng cốt trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.

Tháng 12 - 1995, Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh đến thăm và làm việc với lãnh đạo Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên.

Tại Quyết định 07 - KT/CT ngày 5 - 1 - 1999, Chủ tịch nước tặng thưởng Liên hiệp hội Việt Nam Huân chương Độc lập hạng Nhất.

Trong số các đại biểu do Liên hiệp hội Việt nam và các hội thành viên giới thiệu đã có 12 đại biểu được bầu vào Quốc hội khoá X.

Từ năm 1994, Liên hiệp hội Việt Nam trở thành một đầu mối kế hoạch điều tra cơ bản về môi trường, tổ chức triển khai hàng chục dự án, trong đó có những dự án thực hiện liên tục trong nhiều năm. Ngày 19  - 8 - 1997, Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) ra Quyết định 1300-QĐ/KH công nhận Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam là đầu mối kế hoạch khoa học và công nghệ trong hệ thống chung do Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường quản lý.

Kể từ cuối năm 1993, Liên hiệp hội Việt Nam tổ chức tư vấn thẩm định 6 bộ hồ sơ kinh tế - kỹ thuật công trình thuỷ điện Sơn La trên sông Đà và 4 công trình khác: Nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ (12 - 1993); Nhà máy nhiệt điện Phả Lại II (8 - 1994), Xử lý kỹ thuật các vi phạm Luật đê điều tại Hà Nội (4 - 1995), Phương án điều chỉnh giá điện 1997 (2 - 1997). Riêng trong năm 1997, Liên hiệp hội Vịêt Nam tổ chức phản biện và thẩm định 9 trong số 11 quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các vùng miền thời kỳ 1996 - 2010.

Kể từ năm 1995, Liên hiệp hội Việt Nam phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ hàng năm tổ chức tuyển chọn các công trình và trao tặng Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam.

Ngày 25 - 12 - 1995, Liên hiệp hội Việt Nam cùng với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) ký kết Chương trình phối hợp tập hợp và phát huy tối đa tiềm lực trí tuệ của đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ thuộc mọi thành phần kinh tế. Liên hiệp hội Việt Nam cũng đã ký kết và triển khai thực hiện các thoả thuận hợp tác với Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương), Bộ Giáo dục và Đào tạo, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Vịêt Nam và Ban chỉ đạo quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường.

Trong các ngày 11 - 18/10/1995, lần đầu tiên, Đoàn đại biểu Liên hiệp hội Việt Nam tham dự Hội nghị lần thứ 13 Liên đoàn các tổ chức kỹ sư Asean (CAFEO - 13) họp tại Ban dung - Indonesia và được kết nạp làm thành viên thứ 7 của tổ chức này.

Vượt qua được một số biểu hiện ly khai, phân tán, cơ quan trung ương Liên hiệp hội Việt Nam ngày càng trở thành trung tâm tập hợp và đoàn kết, điều hoà và phối hợp hoạt động của các hội thành viên. Từ trung ương đến các địa phương, nhiều hội ngành toàn quốc và liên hiệp hội tỉnh, thành phố triển khai có hiệu quả mọi mặt hoạt động, trong đó có hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội. Đặc biệt là: Tại Quyết định 1081/1997/QĐ-TTg ngày 13 – 12 – 1997, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Hội Cơ khí Việt Nam nhiệm vụ tham gia ý kiến tư vấn về các dự án, chính sách phát triển ngành cơ khí của nước nhà. Phát huy vai trò chính trị - xã hội của tổ chức trí thức khoa học và công nghệ Thủ đô, Liên hiệp hội Hà Nội đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động lực lượng đông đảo các nhà khoa học và công nghệ tham gia nâng cao dân trí, phổ biến kiến thức, đưa tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, tư vấn, phản biện và giám định xã hội, khởi công xây dựng bộ sách Bách khoa thư Hà Nội.

Trong nhiệm kỳ III Liên hiệp hội Việt Nam chứng kiến việc thành lập thêm 6 hội ngành toàn quốc và 15 liên hiệp hội địa phương.

- Hội ngành toàn quốc:

1. Hội Kế toán Việt Nam (1994)

2. Hội KHCN Tự động Việt Nam (1994)

3. Hội KH-KT Phân tích Hoá, Lý, Sinh học Việt Nam (1995)

4. Hội Cầu đường Việt Nam (1995)

5. Hội KH-KT Ăn mòn và Bảo vệ kim loại Việt Nam (1995)

6. Hội Quy hoạch và phát triển đô thị Việt Nam (1998)

- Liên hiệp hội địa phương:

1. Liên hiệp hội tỉnh Quảng Ngãi (1994)

2. Liên hiệp hội tỉnh Lâm Đồng (1994)

3. Liên hiệp hội tỉnh Thanh Hoá (1994)

4. Liên hiệp hội tỉnh Bình Định (1995)

5. Liên hiệp hội tỉnh Hà Tĩnh (1995)

6. Liên hiệp hội tỉnh Thừa Thiên - Huế (1995)

7. Liên hiệp hội tỉnh Phú Yên (1996)

8. Liên hiệp hội tỉnh Quảng Nam (1997)

9. Liên hiệp hội tỉnh Bạc Liêu (1997)

10. Liên hiệp hội tỉnh Hải Dương (1997)

11. Liên hiệp hội tỉnh Đồng Nai (1997)

12. Liên hiệp hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (1997)

13. Liên hiệp hội tỉnh Ninh Bình (1998)

14. Liên hiệp hội tỉnh Cà Mau (1998)

15. Liên hiệp hội tỉnh Đồng Tháp (1998)

Trong nhiệm kỳ này, các tổ chức khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, do Liên hiệp hội Việt Nam thành lập, hoạt động theo Nghị định 35-HĐBT ngày 27 - 1 - 1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), về công tác quản lý khoa học và công nghệ (gọi tắt là các đơn vị 35).

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 170/2018 new (1)

Trang 1 CHUAN 27 9 small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Trang 1 Chuyen de Pho bien kien thuc thang 9 2018 small