20:06 ICT Thứ sáu, 14/12/2018
Rss Feed

Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam qua các kỳ đại hội (Phần 1)

Đăng lúc: Thứ năm - 25/02/2010 00:00

 
Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam qua các kỳ đại hội (Phần 1)

Sau khi cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc thắng lợi và miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng, ngày 20 - 5 - 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Luật 102-SL/L-004 về quyền lập hội và ngày 14/6/1957, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ban hành Nghị định 258/TTg quy định chi tiết thi hành luật này.

Hai văn kiện quan trọng trên đây đã đặt cơ sở pháp lý và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức hội ra đời, trong đó có các hội khoa học - công nghệ. Từ giữa những năm 50 đến đầu những năm 80 của thế kỷ trước, trên phạm vi cả nước đã có 14 hội khoa học - công nghệ lần lượt được thành lập và đi vào hoạt động trên nhiều lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật. Đó là các hội (sắp xếp theo thời gian thành lập):

 

STT

Tên hội thành viên (năm thành lập)

STT

Tên hội thành viên (năm thành lập)

01

Hội Luật gia Việt Nam (1955)

08

Hội KH-KT Mỏ Việt Nam (1967)

02

Tổng hội Y học Việt Nam (1955)

09

Hội khoa học Kinh tế Việt Nam(1974)

03

Hội Y học Cổ truyền Việt Nam (1957)

10

Hội KH-KT Nuôi ong Việt Nam (1981)

04

Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (1966)

11

Hội Cơ học Việt Nam (1982)

05

Hội Đúc-Luyện kim Việt Nam (1966)

12

Hội KH-KT Lâm nghiệp Việt Nam (1982)

06

Hội Vật lý Việt Nam (1966)

13

Hội KH-KT Xây dựng Việt Nam (1982)

07

Hội Toán học Việt Nam (1966)

14

Hội các ngành Sinh học Việt Nam (1982)

Gần như cùng hoà nhịp với sự ra đời của các hội khoa học - công nghệ là xu thế liên kết các hội thành một tổ chức chung. Tháng 3 năm 1965, Uỷ ban liên lạc lâm thời các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam được thành lập. Vào thời điểm này mới chỉ có 3 hội khoa học – công nghệ là Hội Luật gia Việt Nam, Tổng hội Y học Việt Nam và Hội Y học cổ truyền Việt Nam. Những năm tháng chiến tranh chống Mỹ cứu nước vô cùng ác liệt cũng đã cản trở rất nhiều hoạt động của uỷ ban này.

Thắng lợi trọn vẹn của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến lâu dài đầy gian khổ, hy sinh suốt 30 năm, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất, non sông thu về một mối đã tạo ra những điều kiện thuận lợi mới cho sự phát triển các hội khoa học - công nghệ và sự hình thành tổ chức chung của các hội. Đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, những điều kiện cần thiết cho sự ra đời một tổ chức thống nhất của các hội khoa học - công nghệ trên phạm vi cả nước đã chín muồi. Là trung tâm khoa học và kỹ thuật của cả nước, Thủ đô Hà Nội đã đi đầu trong việc liên kết các hội với việc thành lập Hội liên hiệp khoa học và kỹ thuật Hà Nội, vào tháng 12 năm 1982, về sau đổi tên thành Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Hà Nội. Hơn ba tháng rưỡi sau đó, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (gọi tắt là Liên hiệp hội Việt Nam) ra đời.

Kể từ khi thành lập đến nay, Liên hiệp hội Việt Nam đã trải qua 5 lần đại hội và đang tích cực chuẩn bị cho đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, dự kiến sẽ tiến hành cuối năm 2009.

Đại hội lần thứ I

Trên cơ sở kết quả 18 năm hoạt động của Uỷ ban liên lạc lâm thời các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (1965 - 1983), ngày 26 - 3 - 1983, tại khách sạn Bờ Hồ (Hà Nội), đại biểu của 14 hội khoa học và kỹ thuật toàn quốc (gọi tắt là hội ngành toàn quốc) và Hội liên hiệp khoa học - kỹ thuật Hà Nội đã long trọng cử hành Đại hội thành lập Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam.

Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Liên hiệp hội Việt Nam. Giáo sư Viện sĩ Thiếu tướng Anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa được bầu làm Chủ tịch đầu tiên, KS. Lê Khắc, GS. TSKH Nguyễn Văn Hiệu, GS. Đào Văn Tập, GS. Lê Văn Thới, GS. Đường Hồng Dật làm Phó Chủ tịch, KS. Lê Khắc kiêm nhiệm chức vụ Tổng thư ký và làm Trưởng Ban Thư ký Liên hiệp hội Việt Nam. Bên cạnh đó còn có Ban Tổ chức, Ban Kiến thức và Ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, Ban Tuyên truyền và Xuất bản; Ban Kinh tế.

Trụ sở Liên hiệp hội Việt Nam lúc đó đặt tại  số nhà 30B phố Bà Triệu, Hà Nội.

Ngày 29 - 7 - 1983, Hôi đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định 121/HĐBT về việc cho phép Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam chính thức thành lập và hoạt động. Quyết định này có thể được xem là “Giấy khai sinh” của Liên hiệp hội Việt Nam.

Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam ra đời là nơi tập hợp và đoàn kết đội ngũ trí thức cả nước, điều hoà và phối hợp hoạt động của các hội thành viên. Đại hội thành lập Liên hiệp hội Việt Nam đã gây được tiếng vang lớn ở trong và ngoài nước.

Trong những năm đầu “vạn sự khởi đầu nan”, Liên hiệp hội Việt Nam tập trung vào công tác củng cố và phát triển tổ chức, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, theo tinh thần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Các cô, các chú phải ra sức đem hiểu biết khoa học, kỹ thuật của mình truyền bá rộng rãi trong nhân dân lao động, để nhân dân đẩy mạnh thi đua sản xuất nhiều, nhanh, tốt, rẻ. Có như vậy nước mới giàu, dân mới mạnh và đời sống của nhân dân mới được cải thiện về mọi mặt. Đó là nhiệm vụ vẻ vang của các cô, các chú”.

Sau nhiều năm trực thuộc Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ), rồi Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam), tháng 8 - 1984, Báo Khoa học thường thức chuyển về trực thuộc Liên hiệp hội Việt Nam và đổi tên thành Báo khoa học và Đời sống.

Trải qua 5 năm xây dựng và hoạt động ngày 11 - 4 - 1988, Liên hiệp hội Việt Nam đón nhận Chỉ thị 35-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về củng cố tổ chức và đẩy mạnh hoạt động của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, trong đó nêu rõ “Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo cơ cấu và quy chế của một đoàn thể quần chúng cấp trung ương”.

Ngay trong nhiệm kỳ đầu tiên (1983 - 1988), Liên hiệp hội Việt Nam đã có thêm 8 hội thành viên, trong đó có 4 hội ngành toàn quốc và 4 liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh, thành phố (gọi tắt liên hiệp hội địa phương), đó là

- Hội ngành toàn quốc:

1. Hội KH-KT Địa chất Việt Nam (1983)

2. Hội Những người làm vườn Việt Nam (1986)

3. Hội KH-KT Cơ khí Việt Nam (1988)

4. Hội KH-KT Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (1988)

 - Liên hiệp hội địa phương:

1. Liên hiệp hội tỉnh Nghệ Tĩnh (1985)

2. Liên hiệp hội tỉnh Kiên Giang (1985)

3. Liên hiệp hội thành phố Hồ Chí Minh (1986)

4. Liên hiệp hội thành phố Hải Phòng (1987)

 

Đại hội lần thứ II

Với đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trước hết là đổi mới tư duy trong lĩnh vực kinh tế, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước. Từ đây, không những sản xuất được mở mang, mà một luồng gió mới cũng được thổi vào đời sống xã hội, tạo những điều kiện thuận lợi mới cho sự phát triển các tổ chức nhân dân, trong đó có các hội khoa học – công nghệ. Trong bối cảnh đó, ngày 12 - 5 - 1988. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Liên hiệp hội Việt Nam đã khai mạc tại Nhà hát Lớn (Hà Nội) với sự tham gia của đại biểu 18 hội ngành toàn quốc và 5 liên hiệp hội địa phương. Tham gia Đoàn Chủ toạ Đại hội có các đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Giáo sư Chủ tịch Trần Đại Nghĩa, Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Hữu, giáo sư Phạm Như Cương, Giáo sư Tiến sĩ khoa học Nguyễn Văn Hiệu, Giáo sư Tiến sĩ Hà Học Trạc, Giáo sư Nguyễn Trọng Hiệp và 3 vị khách quốc tế là các trưởng đoàn đại biểu Hội Kiến thức Liên Xô, Hội Phổ biến kiến thức Bungari và Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Liên Xô. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Đại tướng Võ Nguyên Giáo đã phát biểu với Đại hội, toàn văn đăng trên nhiều báo, tạp chí. Trong bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh có đoạn: “Đảng và nhân dân ta tự hào có một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đông đảo hàng chục vạn người, lòng đầy nhiệt huyết, muốn cống hiến nhiều cho xã hội, đưa đất nước mau chóng thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên con đường văn minh, hạnh phúc. Trong đội ngũ đông đảo đó, có nhiều nhà khoa học và kỹ thuật tài năng, có những đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh cũng như cho bản thân sự nghiệp khoa học kỹ thuật của nước nhà. Hội cần phối hợp với ngành giáo dục và các bộ máy thông tin, báo chí truyền thông đại chúng tạo ra một trường xã hội rộng lớn có đông đảo quần chúng nhân dân lao động trực tiếp tham gia và được đào tạo.

Trọng tâm công tác của Hội là tạo ra được phong trào quần chúng hoạt động khoa học kỹ thuật, góp phần đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất và đời sống.

Với sức mạnh tập hợp liên ngành và cách làm việc hợp tác năng động, Hội cũng có thể đảm đương được tốt chức năng phản biện và giám định xã hội”.

Với sự nhất trí cao, Đại hội đã thông qua báo cáo của Ban Chấp hành, Điều lệ (sửa đổi và bổ sung), Quy chế tổ chức và hoạt động của Liên hiệp hội Việt Nam. Kể từ sau Đại hội II, Liên hiệp hội Việt Nam có Hội đồng Trung ương và Hội đồng Trung ương có Đoàn Chủ tịch.

Thể theo nguyện vọng của đông đảo các nhà khoa học và các hội thành viên, Đại hội đã suy tôn Giáo sư Viện sĩ Trần Đại Nghĩa làm Chủ tịch danh dự Liên hiệp hội Việt Nam. Hội đồng Trung ương Liên hiệp hội Việt Nam gồm 49 uỷ viên, đại diện cho tất cả các hội thành viên, cơ quan trung ương Liên hiệp hội Việt Nam và một số cơ quan hữu quan. Hội đồng Trung ương đã bầu ra Đoàn Chủ tịch bao gồm 9 uỷ viên do Giáo sư Tiến sĩ Hà Học Trạc làm Chủ tịch, Tiến sĩ Trịnh Văn Tự và Tiến sĩ Phạm Sỹ Liêm làm Phó Chủ tịch. Tiến sĩ Trịnh Văn Tự kiêm nhiệm chức vụ Tổng Thư ký, Trưởng Ban Thư ký - Từ năm 1990, Cử nhân Trần Cư đảm nhiệm các chức vụ này. Uỷ ban Kiểm tra Liên hiệp hội Việt Nam gồm Chủ nhiệm là Kỹ sư Lê Khắc và 2 uỷ viên. Sau khi kỹ sư Lê Khắc qua đời, từ năm 1990, Tiến sĩ Lê Quang Báu lên thay.

Năm 1989, cơ quan trung ương Liên hiệp hội Việt Nam chuyển về nhà số 53 Nguyễn Du, Hà Nội, trụ sở của Liên hiệp hội Việt Nam từ đó đến nay.

Trong nhiệm kỳ II (1988 - 1993) của Liên hiệp hội Việt Nam, tình hình thế giới đã trải qua những diễn biến phức tạp, đặc biệt là sự tan ra của Liên Xô và sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu. Tại các cuộc gặp và làm việc với Tổng Bí thư Đỗ Mười và nhiều đồng chí lãnh đạo khác của Đảng và Nhà nước diễn ra trong các ngày 20 và 24 - 9 - 1991, đại biểu của Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên đã nhất trí cao với sự đánh giá hiện trạng đất nước, khẳng định những thành quả bước đầu về chính trị, kinh tế, xã hội của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đề xuất những kiến nghị đúng đắn nhằm góp phần khắc phục khó khăn trước mắt và tiếp tục đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ngày 20 - 11 - 1992, Ban Bí thư trung ương Đảng ra Thông báo 37-TB/TW về tổ chức và hoạt động của Liên hiệp hội Việt Nam, trong đó đề ra yêu cầu “cần thể chế hoá chức năng tư vấn, phản biện và giám định xã hội về khoa học và kỹ thuật của các hội”.

Tại Thông báo 52-TB/TW ngày 31 - 8 - 1993, lần đầu tiên, Ban Bí thư Trung uơng Đảng khẳng định: “Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội của trí thức Việt Nam”.

Sau buổi làm việc với lãnh đạo Liên hiệp hội Việt Nam, ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt đã được ghi lại tại Thông báo 115/TB ngày 19 - 4 - 1993 của Văn phòng Chính phủ.

Năm 1992, lần đầu tiên, Liên hiệp hội Việt Nam có 2 cán bộ lãnh đạo trúng cử đại biểu Quốc hội khoá IX.

Cũng trong năm này, cùng với các hoạt động tuyên truyền và phổ biến kiến thức khoa học – công nghệ, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Liên hiệp hội Việt Nam bắt đầu thực hiện nhiệm vụ tư vấn, phản biện luận chứng kinh tế - kỹ thuật công trình thuỷ điện Yaly trên sông Sê san (Gia Lai). Tiếp theo đó, đầu năm 1993, Liên hiệp hội Việt Nam thực hiện việc thẩm tra tài liệu kỹ thuật đường dây tải điện 500 kV Bắc - Nam do hãng Nippon Koei (Nhật Bản) soạn thảo.

Tháng 01 - 1990, Tạp chí Khoa học và Tổ quốc là cơ quan ngôn luận của Liên hiệp hội Việt Nam ra số đầu tiên.

Kể từ năm đó, Liên hiệp hội Việt Nam phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Tổng Liên đoàn Lao dộng Việt Nam và Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh bắt đầu tổ chức hai năm một lần Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn ngành.

Hai năm sau đó, Liên hiệp hội Việt Nam thành lập Quỹ Hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật Việt Nam.

Sau Đại hội II, số lượng các hội thành viên của Liên hiệp hội Việt Nam không ngừng tăng lên với 16 hội ngành toàn quốc với 3 liên hiệp hội địa phương mới được thành lập.

- Hội ngành toàn quốc:

 

STT

Tên hội thành viên (năm thành lập)

STT

Tên hội thành viên (năm thành lập)

01

Hội Địa lý Việt Nam (1988)

09

Hội khoa học Tâm lý – Giáo dục Việt Nam (1990)

02

Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam (1988)

10

Hội khoa học Đất Việt Nam (1991)

03

Hội Tin học Việt Nam (1989)

11

Hội Chăn nuôi Việt Nam (1991)

04

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam (1989)

12

Hội Thú y Việt Nam (1991)

05

Hội Hoá học Việt Nam (1989)

13

Hội Dân tộc học Việt Nam (1991)

06

Hội KH-KT Trắc địa-Bản đồ-Viễn thám Việt Nam (1990)

14

Hội KH-KT Nhiệt Việt Nam (1992)

07

Hội Ngôn ngữ học Việt Nam (1990)

15

Hội Bảo quản nông sản thực phẩm Việt Nam (1992)

08

Hội Điện lực Việt Nam (1990)

16

Hội KH-KT Biển Việt Nam (1992)

- Liên hiệp hội địa phương:

1. Liên hiệp hội tỉnh Khánh Hoà (1988)

2. Liên hiệp hội tỉnh Cần Thơ (1990)

3. Liên hiệp hội tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (1991).

Thực hiện Quyết định 268-CT ngày 30 - 7 - 1990 của Chủ tịch Hội, đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), Liên hiệp hội Việt Nam và các hội thành viên lập các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ với những quy mô khác nhau, từ trung tâm, công ty, tổng công ty đến liên hiệp khoa học - sản xuất. Kể từ khi Quyết định 268-CT hết hiệu lực, một bộ phận các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ của Liên hiệp và các hội thành viên buộc phải giải thể. Nhiều đơn vị kinh tế khác chuyển đổi thành các công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo Quyết định 196-CT ngày 5 - 6 - 1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

 

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 173/2018 new (1)

Market Ban tin so 173 trang1 chuan 28 11small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Trang 1 Chuyen de Pho bien kien thuc thang 12 2018 (final) small