19:14 ICT Thứ sáu, 23/06/2017
Rss Feed

Bảo vệ môi trường với phát triển bền vững sân chơi tiềm năng của các nhà khoa học Việt Nam

Đăng lúc: Thứ ba - 02/02/2016 08:53 - Người đăng bài viết: Cộng tác viên

 

Khái niệm của Liên hiệp Quốc “Phát triển bền vững (PTBV) là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, gồm phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường” đã mặc nhiên xác định vai trò của công tác BVMT với PTBV.

Ngày 17 tháng 8 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg về Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam/) trong đó xác định các nguyên tắc, nội dung lồng ghép công tác BVMT gắn với Phát triển bền vững ở Việt Nam đến 2020 và các giai đoạn tiếp theo.

Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 được coi là một dấu mốc lịch sử cho hoạt động bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Những quan điểm và chính sách cơ bản về bảo vệ môi trường đã được luật hóa cùng một hệ thống quản lý nhà nước về môi trường từ trung ương đến địa phương và một lực lượng hùng hậu các tổ chức hoạt động bảo vệ môi trường đã khiến cho vấn đề môi trường ở nước ta từng bước được cải thiện và được quốc tế đánh giá cao.

Tuy nhiên cùng với nhịp độ phát triển đất nước thông qua quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế thì môi trường sống ở Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại, đặc biệt là việc gắn với sự phát triển bền vững của quốc gia. Chính vì thế,  giới KH&CN Việt Nam có nhiều cơ hội để thực hiện các hoạt động BVMT và .đóng góp vào phát triển bền vững KT-XH trên một số lĩnh vực như sau:

1. Xử lý  ô nhiễm môi trường đát, nước, không khí

Ô nhiễm môi trường nước, không khí đang có xu hướng tăng nhất là ở các thành phố lón, khu công nghiệp , các làng nghề truyền thống. Theo báo cáo của Bộ TN&MT, hiện nay mới chỉ có 66% KCN có hệ thống xử lý nước thải; hầu hết nước thải sinh hoạt ở các đô thị đều không được xử lý mà xả thẳng ra môi trường. Ở khu vực nông thôn, môi trường đất bị ô nhiễm do việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp ngày càng nghiêm trọng . Môi trường đất ở một số nơi còn bị ô nhiễm do chất độc hóa học, chất độc màu da cam tồn lưu sau chiến tranh. Ngoài ra, đất canh tác nông nghiệp ở nhiều nơi đang bị suy thoái do sạt lở, rửa trôi, xói mòn, hoang mạc hóa, mặn hóa, phèn hóa. Hiện tượng mặn hóa, phèn hóa, xâm thực mặn ở các cửa sông và vùng đồng bằng sông Cửu Long đang trở nên gay gắt hơn trong những năm gần đây.

Việc xử lý ô nhiễm môi trường đát, nước, không khí không thể không có nghiên cứu và ứng dụng công nghệ, do đó nó đòi hỏi sự tham gia tích cực của giới KH&CN Việt nam

  • Bảo tồn đa dạng sinh học
  • Do nhiều nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp, trong những năm gần đây, ĐDSH của nước ta tiếp tục suy giảm về lượng và suy thoái về chất với tốc độ cao, diện tích các hệ sinh thái tự nhiên như rừng ngập mặn ven biển, đất ngập nước, núi đá vôi, bãi bồi, cửa sông ven biển bị thu hẹp, chất lượng bị xuống cấp. Số loài và số cá thể các loài hoang dã giảm mạnh, nhiều loài hoang dã bị săn bắt, buôn bán, tiêu thụ trái phép nên nguy cơ tuyệt chủng cao. Nhiều loài giống bản địa bị mai một, sinh vật ngoại lại xâm hại chưa được kiểm soát. Đa dạng sinh học suy giảm với tốc độ báo động ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển bền vững và để lại nhiều hệ quả chưa lường hết được.

    Mặc dù có nhiều tiến bộ trong việc bảo vệ các vườn và khu bảo tồn quốc gia nhưng công tác bảo tồn đa dạng sinh học vẫn cần có sự đóng góp của các chuyên gia sinh vật học cũng như những nhà sinh thái học trong việc lưu trữ, bảo tồn các loài gen quý hiếm cũng như đảm bảo sự đa dạng sinh học tự nhiên không bị mất đi  

    3. Phục hồi môi trường sau khai thác khoáng sản

    Do bị khai thác quá mức và kém hiệu quả nên nguồn tài nguyên dần cạn kiệt và suy thoái nhanh. Tại những nơi khai thác khoáng sản, đất bị thoái hóa, biến chất, giảm độ màu mỡ, và nhiều nơi xảy ra tình trạng hoang mạc hóa, thậm chí có biểu hiện sa mạc hóa ngày càng tăng về quy mô. Hoạt động khai thác gây ô nhiễm môi trường ở nhiều nơi; các khu vực sau khai thác chậm được phục hồi, hoàn trả lại môi trường. chính vì vậy, cộng đồng dân cư tại các khu vực này đã, đang và sẽ tiếp tục chịu nhiều tác động bất lợi  về môi trường từ hoạt động này.

    Cho dù việc phục hồi môi trường sau khai thác khoáng sản thuộc trách nhiệm của doanh nghiệp nhưng giới KH&CN có thể tham gia hoạt động này dưới dạng đánh giá tác động môi trường các dự án khai thác,  tư vấn, xây dựng các mô hình hoàn phục sau khai thác hiệu quả nhằm  đảm bảo môi trường sống và và sản xuất kinh doanh bền vững.

    4.  Đóng góp cho phát triển bền vững thông qua hoạt động bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, thúc đẩy sự dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng, giảm  hiệu ứng nhà kính và phát thải khí các-bon cũng như ứng phó với biến đổi khí hậu

    Việt Nam có một hệ thống các khu bảo tồn, vườn quốc gia với diện tích hơn 2 triệu ha đã được quy hoạch bảo tồn và phát triển, 8  khu dự trữ sinh quyển có hệ động thực vật độc đáo như Cần giờ, Cát Tiên, Cát Bà, Châu thổ sông Hồng, Kiên giang, Miền tây Nghệ an, Cù lao tràm  và Cà Mau đã được UNESCO công nhận,  16 khu bảo tồn biển (Cô Tô, Bạch Long Vĩ, Cát Bà, Cồn cỏ, Lý Sơn, Hòn Cau, Côn Đảo, Phú Quốc v.v)  đã được thiết lập và đưa vào hoạt động. Việc giữ gìn các danh lam thắng cảnh phục vụ phát triển du lịch và thu hút đầu tư nghiên cứu của nước ngoài đòi hỏi các nhà khoa học kết hợp với các nhà quản lý trong việc xác định các biện pháp bảo vệ chúng. . Các khu dự trữ sinh quyển, các khu bảo tồn, vườn quốc gia góp phần quan trọng trong sự cân bằng sinh thái, hạn chế xói lở, điều hòa khí hậu, hạn chế ô nhiễm nước và không khí cũng cần được nghiên cứu để khai thác, bảo vệ và bảo tồn. Những hoạt động như điều tra, đánh giá, bảo tồn các loài và cây quý hiếm cũng như nghiên cứu các mô hình khai thác và phát triển bèn vững hệ sinh thái nhạy cảm là nhiệm vụ của giới khoa học trong lĩnh vực này  

    Sản xuất xanh sạch là xu hướng của thế kỷ 21 để đối phó với tình trang ô nhiễm và cạn kiện nhiên liệu hóa thạch. Việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đặt ra yêu cầu cho các nhà khoa học và công nghệ trong việc nghiên cứu các giải pháp và công nghệ tiết kiệm năng lượng.  Bên cạnh đó việc thực hiện  xây dựng nền công nghiệp xanh, sản xuất sạch hơn nhằm ngăn ngừa  và hạn chế ô nhiễm cũng đặt ra nhu cầu cho các nhà KH&CN. nghiên cứu các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính, giảm chi phí năng lượng  trên giá thành sản phẩm, nâng cao năng xuất và chất lượng sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ 

    Là một nước bị ảnh hưởng lớn nhất của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, khu vực Đông Nam Á nên việc ứng phó biến đổi khí hậu được quan tâm đặc biệt. Chính vì vậy việc nghiên cứu các giải pháp ứng phó biến đổi khí hậu cũng như lồng ghép nó trong  công tác xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển bền vững KT-XH  được đặt ra khẩn cấp hiện nay. Song song với nó là những  hoạt động đánh giá, dự báo tác động của BĐKH  đến  sản xuất và đời sống cũng như nâng cao năng lực ứng phó biến đổi khí hậu của chính quyền và cộng đồng nơi bị ảnh hưởng cũng cần được các nhà khoa học tham gia tích cực.  Có như vậy sự phát triển bền vững tại địa phương nói riêng và quốc gia nói chung mới thành hiện thực.

    5.Tư vấn, phản biện và xâydựng chính sách , pháp luật về bảo vệ môi trường 

    Hệ thống Luật pháp về BVMT và PTBV chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu tính khả thi là những tồn tại hiện nay. Bên cạnh đó việc thi hành pháp luật về BVMT chưa nghiêm do các khiếm khuyết trong việc xây dựng pháp  luật đặt ra yêu cầu tư vấn , phản biện  của giới khoa học. Không những vậy, việc ban hành các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành luật còn chậm và chứa nhiều mâu thuẫn trong nội dung khiến cho nhiều quy định không thể áp dụng được trong thực tế hoặc áp dụng không hiệu quả đòi hỏi phải có sự tham gia và liên kết 2 nhà : nhà khoa học và nhà nước trong việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề này. Đây là hoạt động quan trọng của giới trí thức trong việc tham gia quản lý nhà nước về BVMT và PTBV.

    Tóm lại:

    Phát triển bền vững KT-XH là yêu cầu tất yếu, phù hợp xu thế thời đại. Để PTBV thì BVMT phải được ưu tiên hàng đầu trong các chiến lược phát triển KT_XH. Quan điểm “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức và cá nhân” đã, đang và sẽ  được quán triệt sâu sắc trong thực tiễn. Các cơ quan quản lý nhà nước và các cấp chính quyền địa phương đang đảy mạnh việc xã hội hóa công tác  BVMT do đó vai trò của KH&CN ngày càng được coi trọng.

    Những hạn chế và thách thức trong công tác BVMT và PTBV  đang trở thành  cơ hội cho giới trí thức KH&CN Việt Nam phát huy thế mạnh của mình.

    Tác giả bài viết: Ngô Minh Triết
    Đánh giá bài viết
    Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
    Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
    Click để đánh giá bài viết
     

     

    ddkhtt1

    Bản tin PBKT số 155/2017 new (1)

    trang 1 small

    Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

    Chuyen de Pho bien kien thuc thang 3 small