19:37 ICT Thứ năm, 15/11/2018
Rss Feed

Hội thảo phòng ngừa và điều trị một số bệnh ung thư phổ biến hiện nay ở Việt Nam

Đăng lúc: Thứ tư - 05/09/2018 15:30 - Người đăng bài viết: Cộng tác viên

 

Ngày 01/9/2018, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) tỉnh Hải Dương phối hợp với Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức hội thảo phòng ngừa và điều trị một số bệnh ung thư phổ biến hiện nay ở Việt Nam.

Quang cảnh Hội thảo

Quang cảnh Hội thảo

Chủ trì Hội thảo gồm 03 đồng chí: TS. Nguyễn Kim Diện – Chủ tịch Liên hiệp Hội Hải Dương; TS. Đặng Vũ Cảnh Linh – Trưởng Ban Truyền thông, phổ biến kiến thức thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam; PGS.TS. Hoàng Văn Sơn – Phó Chủ tịch Hội Hóa sinh y học thành phố Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Gần 100 đại biểu đại diện cho các sở, ban, ngành của tỉnh; các nhà nghiên cứu, nhà khoa học; Liên hiệp Hội tỉnh Phú Thọ, Thái Bình, Ninh Bình và một số bệnh nhân mắc bệnh ung thư đã tới dự. Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam, Báo Hải Dương, Đài Phát thanh – Truyền hình Hải Dương đến dự và đưa tin.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ung thư là sự tăng trưởng không được kiểm soát và sự xâm lấn lan rộng của tế bào. Ung thư là một bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi các tác nhân gây ung thư thì tế bào tăng sinh một cách vô hạn, không tuân theo các cơ chế kiểm soát về mặt phát triển của cơ thể.

Mỗi năm trên thế giới ước tính có khoảng 14,1 triệu người mắc mới ung thư, 8,2 triệu người chết do ung thư. Trong đó khoảng 70% là ở các nước đang phát triển. Toàn cầu có khoảng 23 triệu người đang sống chung với ung thư, nếu không can thiệp kịp thời thì con số này sẽ tăng lên 30 triệu vào năm 2020. Theo công bố của Tổ chức y tế thế giới (WHO): Việt Nam đứng ở vị trí 78/172 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng về tỷ lệ tử vong do ung thư là 110 ca/100.000 người.

Trong quá trình hình thành và phát triển, tế bào u có thể đổ vào dòng máu lưu thông. Đa số tế bào này sẽ chết di trong khi vận chuyển, nhưng một số tế bào có thể xuyên qua các nội mạc mạch máu, xâm nhập vào các mô xung quanh và tạo ra các khối u mới độc lập ở xa khối u ban đầu (hiện tượng di căn). Cứ như vậy, những khối u mới này lại tiếp tục phát triển và có thể tiếp tục tạo các di căn khác...

Ung thư không phải do một nguyên nhân gây ra. Một tác nhân sinh ung thư có thể gây ra một số loại ung thư và một loại ung thư có thể do một số tác nhân khác nhau. Hầu hết các ung thư có rất nhiều yếu tố nguyên nhân và yếu tố nguy cơ. Các nguyên nhân có thể chia làm hai nhóm chính là các nguyên nhân bên ngoài như thuốc lá, dinh dưỡng không hợp lý và các nguyên nhân bên trong như rối loạn di truyền.

Các loại ung thư khác nhau có yếu tố nguy cơ khác nhau. Một số yếu tố nguy cơ chủ yếu gắn liền với một số loại ung thư cụ thể.

Theo WHO, 1/3 ung thư có thể dự phòng được, 1/3 các loại ung thư có thể chữa khỏi nếu được phát hiện bệnh sớm, điều trị kịp thời và bằng các phương pháp điều trị, chăm sóc có thể kéo dài thời gian và nâng cao chất lượng sống cho 1/3 số ung thư còn lại.

Hiệp hội chống ung thư  quốc tế đề ra 4 ưu tiên cho mỗi chương trình phòng chống ung thư quốc gia mỗi nước, bao gồm: phòng bệnh ung thư; phát hiện bệnh sớm; nâng cao hiệu quả điều trị bệnh ung thư; chống đau và chăm sóc triệu chứng cho bệnh nhân ung thư ở giai đoạn muộn. Trong đó, phòng bệnh ung thư luôn chiếm vị trí ưu tiên quan trọng. Đây là phương pháp nếu được thực hiện và đầu tư hợp lý sẽ mang lại tính hiệu quả cao và lâu bền.

Trên 80% nguyên nhân gây bệnh ung thư có nguồn gốc từ môi trường bên ngoài và nhờ tránh hoặc hạn chế tiếp xúc với các yếu tố này chúng ta có thể phòng ngừa được nhiều loại ung thư. Trong các nguyên nhân bên ngoài, các yếu tố về vật lý đóng góp phần đáng kể trong gây ung thư ở người bao gồm: bức xạ ion hóa; bức xạ cực tím.

Các yếu tố hoá học là các tác nhân chủ yếu gây bệnh ung thư ở người. 65% các bệnh ung thư, trong đó chủ yếu là ung thư phổi, khoang miệng, hạ họng- thanh quản, thực quản, bàng quang, vú, cổ tử cung, đại - trực tràng là do hút thuốc, chế độ ăn không hợp lý và một số yếu tố khác gây nên.

Tác nhân sinh học liên quan đến ung thư chủ yếu là vi-rút. Điều này thấy trong ung thư cổ tử cung, ung thư gan do vi rút viêm gan B, một số loại ung thư máu, ung thư hạch bạch huyết và ung thư mũi họng. Các loại vi-rút được nghiên cứu đến nhiều nhất gồm: Vi-rút viêm gan B, Vi-rút gây u nhú, Virut Epstein-Barr, Vi-rút bệnh bạch cầu ở người. Sán Schistosoma là ký sinh trùng được coi là nguyên nhân ung thư bàng quang và một số ít trường hợp ung thư niệu quản. Hay gặp ở châu Phi và Trung Đông.

Vi khuẩn được đề cập đến trong ung thư nhiều nhất là Helicobacter Pylori (HP). Người ta thấy có mối liên quan giữa HP và ung thư dạ dày. Vi khuẩn cũng gây viêm loét dạ dày mãn tính và có thể điều trị bằng kháng sinh.   

Khi làm việc trong môi trường nghề nghiệp, con người tiếp xúc với cả bức xạ ion hoá, hoá chất và virút nhưng tác nhân quan trọng nhất là hoá chất. Nhóm nguyên nhân này chiếm khoảng 2% đến 8% ung thư ở người.

Các ung thư nghề nghiệp thường xảy ra ở các cơ quan tiếp xúc trực tiếp như da và đặc biệt là các cơ quan hô hấp. Ngoài ra cần kể đến các ung thư ở cơ quan có nhiệm vụ bài tiết các chất chuyển hoá gây ung thư như đường tiết niệu.

Có tới trên 80% nguyên nhân gây bệnh ung thư là do môi trường bên ngoài, trong đó chủ yếu là hút thuốc và chế độ dinh dưỡng không hợp lý đã chiếm tới 65% nguyên nhân gây bệnh. Các yếu tố khác là môi trường có các chất độc hại, nhiễm một số loại virut, vi khuẩn, ký sinh trùng... Nhờ việc từ bỏ thói quen xấu như hút thuốc và xây dựng một lối sống lành mạnh, xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý, luyện tập thể dục thể thao tránh béo phì, chúng ta có thể phòng tránh được phần lớn các bệnh ung thư ở người.

Các biện pháp phòng ngừa chung bao gồm:

- Dinh dưỡng hợp lý: Khẩu phần và ăn uống hợp lý. Đảm bảo cân bằng dinh dưỡng trong khẩu phần ăn. Tránh ăn quá nhiều chất béo. Ăn nhiều rau quả có màu xanh, vàng, giàu chất chống o-xy hóa thiên nhiên như  beta caroten, vitamin C, E ...

- Không uống nhiều rượu, không hút thuốc.

- Phòng bệnh nghề nghiệp và môi trường xung quanh: hạn chế tiếp xúc chất gây ung thư có thể gặp khi hành nghề hoặc từ không khí, nước, chất thải công nghiệp. Giảm thiểu ô nhiễm do khí thải giao thông, công nghiệp. Thực hiện tốt bảo hộ lao động.

- Gây miễn dịch với những vi-rút sinh ung thư (tiêm phòng vi rút viêm gan, vi rút HPV)...

Các kỹ thuật hiện đại áp dụng điều trị bệnh ung thư tại Việt Nam

Ung thư là căn bệnh có thể chữa khỏi nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời và đúng phương pháp. Tại các nước phát triển, 70% người bệnh ung thư tránh được tử vong nhờ các tiến bộ của y học. Điển hình một số loại như ung thư giáp trạng, vú, cổ tử cung... tỷ lệ chữa khỏi đạt trên 80%.

Tại Việt Nam, theo đánh giá của Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC), tỷ lệ chữa khỏi bệnh ung thư đạt 40%. Tỷ lệ này chưa được cao như mong muốn chủ yếu do phần lớn bệnh nhân ung thư ở nước ta đến khám và điều trị ở giai đoạn muộn (trên 80%).

Ung thư có nhiều loại, mỗi loại đều khác nhau về nguyên nhân, phát triển và tiên lượng. Điều trị bệnh ung thư cần dựa vào bản chất mô học của bệnh, giai đoạn bệnh, mục đích điều trị, toàn trạng của người bệnh và một số yếu tố khác.

Đặc tính chung của bệnh ung thư là phát triển mạnh tại chỗ, xâm lấn vùng xung quanh, di căn xa qua đường máu và đường bạch huyết tới các cơ quan khác nhau. Chính vì vậy, việc điều trị bệnh ung thư cần được phối hợp nhiều phương pháp điều trị. Phẫu thuật là phương pháp điều trị tại chỗ. Xạ trị là phương pháp điều trị tại vùng. Phương pháp điều trị toàn thân bao gồm hoá chất, nội tiết và sinh học.

Phẫu thuật là một trong ba vũ khí chính điều trị bệnh ung thư, là phương pháp chủ yếu và cơ bản nhất (khoảng 80% bệnh nhân ung thư được điều trị bằng phẫu thuật). Ngày nay, nhờ sự hiểu biết rõ về cơ chế sinh bệnh học cũng như sự tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị ung thư nên vai trò của phẫu thuật trong ung thư trở nên đa dạng và tiến bộ hơn.

Phẫu thuật nội soi được áp dụng điều trị nhiều bệnh ung thư như ung thư dạ dày, đại – trực tràng, gan – mật – tụy, phụ khoa, phổi – trung thất, giáp… Phẫu thuật tạo hình trong ung thư: phẫu thuật điều trị ung thư thường là các phẫu thuật lớn, tàn phá các cơ quan bị bệnh do đó thường gây ảnh hưởng tới chức năng của các cơ quan cũng như chất lượng sống của người bệnh. Xu hướng hiện nay là điều trị đa mô thức phối hợp các phương pháp nên phẫu thuật điều trị có bảo tồn hoặc tạo hình, phục hồi chức năng.

Xạ trị là một trong ba vũ khí chính để điều trị bệnh ung thư. Sử dụng các tia bức xạ ion hoá có năng lượng cao, đó là các sóng điện từ (tia X, tia g...) hoặc các hạt nguyên tử (nơtron, electron...) để tiêu diệt tế bào ung thư. Được áp dụng cho điều trị tại vùng. Hiện nay điều trị tia xạ do thay thế máy Cobalt bằng máy gia tốc năng lượng cao làm tăng hiệu quả điều trị mà ít ảnh hưởng tới tổ chức lành. Hiện nay áp dụng các máy xạ trị gia tốc năng lượng cao giúp cho xạ chính xác tổ chức bị bệnh, ít gây ảnh hưởng tới các cơ quan, tổ chức lành. Các kỹ thuật xạ trị hiện đại cũng được áp dụng như xạ trị điều biến liều (Intensity Modulated Radiation Therapy – IMRT); Xạ trị hình cung, điều biến liều theo thể tích (Volume Modulated Arc Therapy – VMAT); Xạ phẫu gamma knife: phẫu thuật khối u bằng các chùm tia gamma từ nguồn Co-60 để bắn phá các tế bào ung thư. 

Ngoài ra, các kỹ thuật xạ trị mới đưa nguồn phóng xạ vào tận nơi hiện diện của tổ chức ung thư để tiêu diệt các tế bào ác tính, giảm thiểu tác hại của các tế bào lành. Kỹ thuật tắc mạch dùng hạt vi cầu phóng xạ đưa các hạt vi cầu chứa đồng vị phóng xạ

Điều trị toàn thân trong đó hóa trị (Chemotherapy) là phương pháp kinh điển qua sử dụng các thuốc gây độc tế bào nhằm tiêu diệt các tế bào ác tính trong cơ thể người bệnh. Phương pháp điều trị hóa trị liều cao và ghép tế bào gốc tạo máu (tự thân hoặc dị gen) đã được áp dụng  trong điều trị các bệnh hệ tạo huyết như u lymphô ác tính không Hodgkin, bệnh Hodgkin, đau tủy xương, bệnh bạch cầu cấp.

Tác giả bài viết: Trần Thủy
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 172/2018 new (1)

Market Ban tin so 172 trang 1 7 11 small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Trang 1 Chuyen de Pho bien kien thuc thang 9 2018 small