06:25 ICT Thứ hai, 21/05/2018
Rss Feed

Góp ý dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều về tổ chức, hoạt động và quản lý hội

Đăng lúc: Thứ sáu - 18/05/2018 18:24 - Người đăng bài viết: Cộng tác viên

 

Ngày 18/5/2018, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã tổ chức Hội thảo “Góp ý dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội”. TS Phạm Văn Tân – Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Liên hiệp Hội Việt Nam, TS Phan Tùng Mậu – Phó chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì hội thảo.

TS Phạm Văn Tân – Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Liên hiệp Hội Việt Nam phát biểu tại hội thảo

TS Phạm Văn Tân – Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Liên hiệp Hội Việt Nam phát biểu tại hội thảo

Hoạt động hội ở Việt Nam từ trước đến nay được điều chỉnh bằng sắc lệnh số 102/ SL/L004 ngày 20-5-1957 quy định về quyền lập hội. Nghị định 45/2010/NĐ-CP ngày 21-4-2010 của Chính phủ quy định về tổ chức hoạt động và quản lý hội và Nghị định số 33/2012/NĐ-CP bổ xung một số điều của Nghị định 45. Các nghị định hướng dẫn thực thi Sắc lệnh 102 này, được ban hành là cơ sở pháp lý quan trọng để công dân tiếp tục thực hiện quyền tự do thành lập hội đã được Hiến pháp công nhận và được nêu tại Điều 2 của Sắc lệnh số 102: “Mọi người đều có quyền lập hội, trừ những người mất quyền công dân hoặc đang bị truy tố trước pháp luật. Mọi người có quyền tự do vào hội thành lập hợp pháp và có quyền tự do ra hội. Không ai được quyền xâm phạm quyền lập hội và quyền tự do vào hội, ra hội của người khác.”

Theo ý kiến của TS Phạm Văn Tân - Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Liên hiệp Hội Việt Nam cho biết, Bên cạnh những tác động tích cực mà các nghị định đã tạo ra đối với hoạt động hội, qua nhiều năm việc thực hiện Nghị định số 45 và Nghị định số 33 từ thực tiễn hoạt động nổi lên một số bất cập gây khó khăn cho các hội như Nghị định chưa bám sát nội dung của Sắc lệnh số 102 về quyền lập hội của công dân, chỉ tập trung quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội mà chưa quan tâm thể hiện đầy đủ các quy định về quyền lập hội có liên quan mật thiết với nhiều quyền khác như: quyền hội họp, quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin; quyền của công dân trong việc tham gia vào quản lý Nhà nước và xã hội.

hoat dong hoi 2

TS Tạ Ngọc Hải – Viện khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ

Theo ý kiến của TS Tạ Ngọc Hải – Viện khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ cho biết, cho đến nay (tháng 5/2018) theo các báo cáo của cơ quan quản lý nhà nước về hội và các nghiên cứu về hội ở nước ta vẫn dùng số liệu từ năm 2014, chính vì vậy tính đến tháng 12 năm 2014 cả nước có 52.565 hội (483 hội hoạt động phạm vi cả nước và 52.082 hội hoạt động phạm vi địa phương), trong đó có 8.792 hội có tính chất đặc thù (28 hội hoạt động phạm vi cả nước và 8.764 hội hoạt động phạm vi địa phương). Điều đó cho thấy, việc cho phép thành lập, chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, đổi tên hội còn nhiều hạn chế. Hệ thống pháp luật và trong tổ chức, hoạt động của hội còn nhiều bất cập, chưa có sự đồng bộ. Nhiều hội hoạt động còn hình thức, chưa đáp ứng nguyện vọng, lợi ích hợp pháp của hội viên, còn trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước.

hoat dong hoi 3

PGS.TS Hồ Uy Liêm – Chủ tịch Hội đồng trung tâm thông tin tổ chức phi chính phủ

PGS.TS Hồ Uy Liêm – Chủ tịch Hội đồng trung tâm thông tin tổ chức phi chính phủ thì cho rằng, Điều 4a và Điều 4b bao gồm chính sách của Nhà nước đối với hội và chính sách, chế độ đối với người làm việc tại hộiđược bổ sung vào Điều 4 của nghị định hiện hành. Nhưng tiêu đề của Điều 4 trong nghị định lại đề cập đến “Tên, biểu tượng, trụ sở, con dấu và tài khoản của hội. Như vậy đáng lẽ các điều 4,4a,4b phải có mối liên kết thế nào đó với nhau chứ, đằng này các điều đó chẳng  ăn nhập gì với nhau cả, tại sao lại phải đưa vào một chỗ. Tại sao không đưa các Điều 4a và 4b thành Điều 5, rồi đẩy các điều sau lùi tiếp. Mặt khác Điều 4a ghi rõ: Ban hành cơ chế, chính sách để hội tham gia xã hội hóa các hoạt động cung cấp dịch vụ, tư vấn, thực hiện chương trình, dự án, đề tài và các hoạt đông khác của các cơ quan nhà nước thôi chứ không phải của các thành phần xã hội khác. Nội dung này thực chất lặp lại một cách không đầy đủ Khoản 3 Điều 37 bổ sung và sửa đổi. Trong đó nêu rõ hơn về các chính sách này: “Ban hành cơ chế, chính sách để hội tham gia chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu, tư vấn, phản biện, giám định xã hội, cung cấp dịch vụ công, đào tạo, cấp chứng chỉ hành nghề v.v…” Đề nghị viết lại Điều 4a đúng như nội dung của Điều 37, nhất là không bỏ sót nhiệm vụ vào loại quan trọng nhất và sở trường nhất của các hội, đặc biệt là các hội khoa học và công nghệ như các hội thành viên của VUSTA, là hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội và tham gia thực hiện các dịch vụ công.

Cùng quan điểm với PGS Liêm, ông Trần Ngọc Hùng – Chủ tịch Tổng Hội Xây dựng Việt Nam cho rằng, trong toàn bộ dự thảo bổ sung, sửa đổi Nghị định tôi thấy Điều 4a này là đáng giá nhất, vì việc thực hiện nghiêm túc và thành công điều này sẽ đảm bảo cho các hội tồn tại và phát triển, làm cho hoạt động hội trở nên phong phú và hấp dẫn, góp phần đóng góp thiết thực cho sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

hoat dong hoi 4

Ông Trần Ngọc Hùng – Chủ tịch Tổng Hội Xây dựng Việt Nam

Tại hội thảo, các đại biểu cũng đưa ra nhiều ý kiến bấp cập cần sửa đổi để hoàn thiện, tuy nhiên Nghị định 45/2010/NĐ-CP với những quy định tương đối cởi mở, đã góp phần tháo gỡ khó khăn và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động của các hội.

Tác giả bài viết: HT
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 166/2018 new (1)

Trang 1 Ban tin 166 small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Chuyen de Pho bien kien thuc thang 3 2018 1 small