00:02 ICT Thứ ba, 24/10/2017
Rss Feed

Giáo sư Tôn Thất Tùng, một trí thức tài năng

Đăng lúc: Thứ hai - 18/01/2016 16:44 - Người đăng bài viết: Cộng tác viên

 

Giáo sư Bác sĩ Tôn Thất Tùng sinh ngày 10/5/1912 tại Thanh Hóa và lớn lên ở Huế. Xuất thân từ một gia đình quý tộc nhà Nguyễn (thân sinh ông là cụ Tôn Thất Niên, Tổng đốc Thanh Hóa), có nhiều điều kiện để theo đuổi con đường công danh ở chốn quan trường.

GS Tôn Thất Tùng (1912-1982), (Ảnh: Internet)

GS Tôn Thất Tùng (1912-1982), (Ảnh: Internet)

Với tinh thần yêu nước và ý thức dân tộc nên ông không theo đuổi nghiệp học làm quan. Năm 1931, ông ra Hà Nội theo học tại trường Trung học Bảo Hộ (tức trường Bưởi - trường Chu Văn An ngày nay). Năm 1935, ông học tại Trường Y khoa Hà Nội, một trường thành viên của Viện Đại học Đông Dương, với quan niệm nghề y là một nghề "tự do", không phân biệt giai cấp, không phụ thuộc vào chính quyền thực dân. Lúc ông học năm thứ 3 thì cụ Hồ Đắc Di, bác sĩ người Việt duy nhất lúc ấy được công nhận chính thức cùng đến làm việc ở Bệnh viện Phủ Doãn như là bác sĩ thường trú.  Ông viết: “Mẹ tôi muốn cho tôi đi học để làm quan, nhưng tôi chán ngấy cảnh tượng những quan lại ở Huế: Một mặt thì sợ Tây hết vía, một mặt thì chà đạp nhân dân lao động của mình; vì thế tôi đã sớm rời nhà để ra Hà Nội vào khoảng năm 1931, theo học trường Bưởi, rồi trường Y, mong rằng mai sau sẽ làm một nghề “tự do” không phụ thuộc vào đám quan lại hay chính quyền thực dân” [1].

 

Lúc bấy giờ, Trường Y Hà Nội là trường y duy nhất của cả Đông Dương trước 1945, khi đó có lệ các sinh viên y khoa bản xứ chỉ được thực tập ngoại trú, không được dự các kỳ thi "nội trú", do chính quyền thuộc địa không muốn có những bác sĩ bản xứ có trình độ chuyên môn cao có thể cạnh tranh với bác sĩ của chính quốc. Trong thời gian làm việc ngoại trú tại Bệnh viện Phủ Doãn, ông đã rất bất bình với việc này và đã đấu tranh đòi chính quyền thực dân phải tổ chức cuộc thi nội trú cho các bệnh viện ở Hà Nội vào năm 1938. Ông là người duy nhất trúng tuyển một cách xuất sắc trong kỳ thi khóa nội trú đầu tiên của trường và mở đầu tiền lệ cho các bác sĩ nội trú người bản xứ.

Từ năm 1935 – 1939, trong một lần phát hiện trong gan của một người bệnh có giun chui ở các đường mật, ông đã nảy ra ý tưởng dùng những lá gan bị nhiễm giun để phẫu tích cơ cấu của lá gan. Chỉ bằng cái curette thô sơ nhưng Tôn Thất Tùng đã kiên nhẫn phẫu tích trên 200 cái gan của tử thi, qua đó vẽ lại sơ đồ, đối chiếu để tìm ra những nét chung về gan. Trên cơ sở đó ông đã viết và bảo vệ thành công luận văn tốt nghiệp với nhan đề: “Cách phân chia mạch máu của gan”. Đây là một công trình thuộc về giải phẫu loài người nên ông đã hướng nghiên cứu của mình vào việc cắt gan, lĩnh vực mà cả thế giới chưa có ai dám đề cập. Bản luận án được đánh giá rất cao và trở thành tiền đề cho những công trình khoa học nổi tiếng của ông sau này. Với bản luận án này, Tôn Thất Tùng đã được Trường Đại học Tổng hợp Paris đánh giá cao và quyết định trao tặng cho ông Huy chương bạc. Bản luận văn cũng chính là tiền đề cho những công trình khoa học nổi tiếng của ông sau này.

ttt2

GS Tôn Thất Tùng giảng bài cho các sinh viên Trường đại học Y khoa (1947), (Ảnh: Internet)

Năm 1938, khi đang làm việc ngoại trú tại Bệnh viện Phủ Doãn (nay là bệnh viện Việt Đức), Tôn Thất Tùng bất bình với việc chính quyền thực dân Pháp không tổ chức thi nội trú cho sinh viên vì không muốn người bản xứ có trình độ cao. Ông cùng với một số người khác kiên quyết đấu tranh đề nghị chính quyền thực dân Pháp phải tổ chức thi nội trú cho các sinh viên trường y. Ông là người Việt Nam duy nhất và là người đầu tiên được nhận. Ông đã chọn Khoa Ngoại của Trường đại học Y Hà Nội, tức bệnh viện Phủ Doãn để làm việc. Bên cạnh việc thăm bệnh và phụ mổ,  Tôn Thất Tùng còn tích cực thực hành mổ xẻ trên xác bệnh nhân đã được khám hay phẫu thuật rồi để kiểm tra và ông phát hiện các thầy của mình đã sai vì đưa cách hiểu biết ở phương Tây vào các nước nhiệt đới, mở đầu cho một số giả thiết nhưng mãi sau này mới tìm được lời giải.

Ông tự xác định nguyên tắc coi công việc hằng ngày là quan trọng nhất để từ đó đi sâu vào nghiên cứu khoa học. Ông cho rằng có nghiên cứu khoa học mới và bám sát vào thực tiễn mới có thể chẩn đoán bệnh và tìm ra phương pháp chữa bệnh tốt nhất. GS.Tôn Thất Tùng khẳng định: “Một người nghiên cứu như tôi hiện nay không chỉ là một nhà mổ xẻ mà còn phải biết sinh vật học, hóa học và vật lý nữa. Tính chất bao quát của mọi vấn đề ngày càng bao trùm lên các vấn đề nghiên cứu khoa học, và một thanh niên chuẩn bị đi vào khoa học phải nắm vững những kiến thức ấy.”

Sau nhiều lần cắt trên gan người chết, năm 1938, một lần ông đề xuất với thầy hướng dẫn là GS.Mayer-May về phương pháp của mình. GS.Mayer-May tán thành và đã cùng BS.Tôn Thất Tùng tiến hành cắt bỏ thùy gan trái cho bệnh nhân. Phương pháp cắt gan này khá mới mẻ, bởi theo khảo cứu của Tôn Thất Tùng, từ năm 1938 trở về trước y văn cho biết thế giới mới cắt gan 87 lần - một con số không đáng kể vì cắt gan “không kế hoạch”, nghĩa là cắt vu vơ, gặp mạch máu thì buộc lại. Kết quả sau khi mổ cho thấy tín hiệu khả quan, thấy bệnh nhân vẫn sống sót sau khi mổ, GS.Mayer-May đề nghị Tôn Thất Tùng: “Anh chép lại bệnh án trao cho tôi ngay. Chúng tôi sẽ gửi báo cáo này lên Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris”. Tuy nhiên, bản bản báo cáo bị GS.Funck-Brentano công kích dữ dội, vì “ý tưởng của Tôn Thất Tùng quá mới”. Tuy nhiên, phải đến Hội nghị phẫu thuật quốc tế năm 1952 tại Copenhaghen - Đan Mạch, phương pháp cắt gan của ông mới được thừa nhận.

Sau này, chính vì biết rõ các cơ mạch trong gan, vào những năm 1960, ông đã nghiên cứu thành công phương pháp "cắt gan có kế hoạch". Đây là một phương pháp hoàn toàn mới và hiện đại, khác hẳn với những phương pháp trước đây. Trước đây, do chưa có mô tả chính xác các mạch máu trong gan nên người ta vẫn quen dùng phương pháp "cắt gan không có kế hoạch". Ông cho rằng làm như vậy thì thật nguy hiểm, vì cắt xong nếu không đúng mạch, bệnh nhân có thể chết do chảy máu hoặc do hoại tử gan.

Để ghi nhận công lao của người đầu tiên đã tìm ra phương pháp này, người ta gọi đó là "Phương pháp mổ gan khô" hay "Phương pháp Tôn Thất Tùng". Đánh giá về phương pháp cắt gan của Tôn Thất Tùng, giáo sư người Pháp nổi tiếng Malêghi trong báo Lion Phẫu thuật, năm 1964 đã viết: "Trường Đại học Y khoa Hà Nội có thể tự hào đã có hai thành tựu trong lịch sử của mình, một là đã nghiên cứu lần đầu tiên về cơ cấu các mạch trong gan, hai là lần đầu tiên đã thành công trong việc cắt gan có kế hoạch".

ttt3

Chủ Tịch Hồ Chí Minh và một số vị trong Chính phủ kháng chiến ở Việt Bắc năm 1948. GS Tôn Thất Tùng, người thứ hai hàng trước, từ phải sang. (Ảnh: Internet)

Năm 1945, Tôn Thất Tùng đã tham gia cướp chính quyền ở bệnh viện Phủ Doãn. Trong tiếng súng nổ ra không ngớt, ông được gọi đi mổ xẻ ở Hà Đông hoặc đi chữa bệnh cho các đồng chí Việt Minh ở Bắc Bộ Phủ và đã có dịp được gặp Bác Hồ. Cách mạng Tháng Tám thành công, Tôn Thất Tùng  được Chính phủ tín nhiệm giao nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.  Ông kể “Thường sau khi tiêm thuốc xong, Bác hay hỏi chuyện nhà tôi, về công việc và gia đình. Biết tôi đã có con trai đầu lòng, Bác nói: “Để tôi đặt tên cho nó. Tên chú có bộ mộc nên đặt cho con chú tên Bách. Cho mãi đến năm 1968, một năm trước khi Bác mất, trong một buổi họp, Bác còn hỏi thăm cháu Bách”[2]. Cũng trong thời gian này, ông đã viết và công bố cuốn sách “Viêm tụy cấp tính và phẫu thuật” là cuốn sách y đầu tiên được xuất bản dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Cuối năm 1946 ông cùng gia đình rời Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc vừa tham gia kháng chiến vừa xây dựng và phát triển ngành y tế. Cùng với các các bác sỹ khác như BS.Nguyễn Hữu Trí, BS Hoàng Đình Cầu, sinh viên Trường đại học Y Hà Nội và nhân viên của Bệnh viện Phủ Doãn, Tôn Thất Tùng đã xây dựng tuyến mổ xẻ cho mặt trận Tây nam, Tây bắc Hà Nội như Vân Đình, Hà Đông (1946), Lăng Quán, Tuyên Quang (1947), Phù Ninh, Phú Thọ(1948), Đại Lục, Phú Thọ (1949), Chiêm HóaTuyên Quang (1950)... Ông cũng được cử làm làm cố vấn phẫu thuật ngành quân y ở Bộ Quốc Phòng. Cũng trong thời gian này, cùng với Giáo sư Đặng Văn Ngữ, ông đã góp phần sản xuất penicillin phục vụ thương bệnh binh trong điều kiện dã chiến.

Từ năm 1947 đến năm 1961, GS Tôn Thất Tùng được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế.

Từ năm 1954, ông làm Giám đốc bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, và giữ cương vị Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại Đại học Y Dược Hà Nội. Ông đề cao việc tiếp thụ y học phương Tây để xây dựng và phát triển nền y học của Việt Nam, nghiên cứu bệnh tật và chữa trị cho người Việt Nam, đi đầu trong việc áp dụng các kỹ thuật phát triển ngành ngoại khoa Việt Nam. Ông là người đầu tiên mổ tim ở Việt Nam nǎm 1958. Trong những năm 1960, ông đã nghiên cứu thành công phương pháp "cắt gan có kế hoạch", thường được gọi là "phương pháp mổ gan khô" hay "phương pháp Tôn Thất Tùng". [3].

ttt4

GS Tôn Thất Tùng (người mặc complet trắng bên trái) hướng dẫn Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Bệnh viện Việt - Đức sau ngày Hà Nội giải phóng (10/10/1954) (Ảnh: Internet)

Năm 1961, tại Bệnh viện Việt - Đức, GS.Tôn Thất Tùng tiến hành cắt thùy gan phải cho bệnh nhân  theo phương pháp của mình. Ca phẫu thuật chỉ diễn ra trong 6 phút. Đem so sánh người ta thấy phương pháp của Tôn Thất Tùng khác phương pháp Lortat-Jacob ở chỗ: Ông tìm các mạch máu và ống mật ở ngay trong gan (qua tổ chức gan ung thư bị ông bóp vỡ) để thắt lại trước khi mổ; trong khi Lortat-Jacob tìm ở ngoài gan, do vậy, lâu hơn nhiều. Sở dĩ ông có thể làm được như vậy là vì chính ông là người đầu tiên trên thế giới mô tả được rành rẽ các mạch máu và ống mật trong gan. Sau đó trong vòng 1 năm, GS.Tôn Thất Tùng cắt gan cho 50 trường hợp, vượt kỷ lục của L. Jacob đến 10 lần.

Với thành công này, năm 1963, GS.Tôn Thất Tùng cho công bố một phương pháp cắt gan mới trên tờ The Lancet ở London, tờ tạp chí rất nổi tiếng trong ngành phẫu thuật thế giới. Công trình gây chấn động dư luận.

Năm 1970 GS.Tôn Thất Tùng cùng với người bạn của mình là GS.Nguyễn Phúc Bửu Hội được sự giúp đỡ của các giáo sư Mỹ ở Đại học Harvard đã tiến hành tìm hiểu và nghiên cứu về di hại của dioxin mà quân đội Hoa Kỳ đã rải xuống Việt Nam.  Ông cũng là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu tác hại của chất độc hóa học điôxin đến con người và môi trường tại Việt Nam, phương pháp điều trị các vết thương do bom bi, phương pháp điều trị ung thư gan bằng phẫu thuật kết hợp dùng miễn dịch và rất nhiều công trình khoa học khác.

Phương pháp phẫu thuật cắt gan của GS Tôn Thất Tùng được nhiều nơi trên thế giới áp dụng. Manfredi và đồng nghiệp (J Surgical Oncology) báo cáo 103 ca giải phẫu dùng phương pháp của GS.Tôn Thất Tùng, mà tác giả mô tả là không có biến chứng gì đáng kể, với thời gian sống sót lên đến 8 năm. Các nhà giải phẫu đã so sánh nhiều kỹ thuật giải phẫu và họ kết luận kỹ thuật cắt gan của GS.Tôn Thất Tùng là tiêu chuẩn vàng. Cuốn sách “Phương pháp phẫu thuật cắt gan” của ông được nhiều nhà xuất bản ở Pháp, Nga, Ý dịch in và phát hành rộng rãi.

Với những đóng góp to lớn cho nền y học     ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, Viện sĩ Viện Hàn lâm Y học Liên Xô, Hội viên Hội quốc gia những nhà phẫu thuật Cộng hòa Dân chủ Đức, Viện sĩ Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris, Hội viên Hội các nhà phẫu thuật Lyon (Pháp), Thành viên Hội Quốc gia các nhà phẫu thuật Algieri. Ông còn là một giáo sư, đào tạo ra nhiều thế hệ bác sĩ tài năng tại Trường Đại học Y Hà Nội. Ông còn giữ cương vị Thứ trưởng Bộ Y tế Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nguyên Giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn (Bệnh viện Hữu nghị Việt - Đức bây giờ), nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại khoa - Trường Đại học Y Hà Nội. Ông mất ngày 7 tháng 5 năm 1982 tại Hà Nội, thọ 70 tuổi;

Những thành tựu, cống hiến khoa học của ông:

Tài liệu tham khảo:

1. Hồi ký Đường vào khoa học của tôi

2. Hồi ký Đường vào khoa học của tôi

3. Trường đại học Y Hà Nội, 2013, Giáo sư Tôn Thất Tùng, người thầy thuốc mẫu mực của nhân dân. Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia – Sự thật.

Tác giả bài viết: Minh Khôi
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

a11

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 158/2017 new (1)

Market Ban tin so 158 1 copy small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Chuyen de Pho bien kien thuc thang 9 (final) 1 copy small